Thác A Nôr
Tiếng nước chưa kịp nhìn thấy đã vang tới trước. Rồi rừng A Lưới rẽ ra, và ba dòng thác hiện lên, trắng xóa, nối tiếp nhau từ độ cao hơn một trăm hai mươi mét, đổ xuống như ba trang sách của cùng một câu chuyện.
Thác A Nôr nằm sâu trong vùng núi A Lưới của Huế, nơi dãy Trường Sơn vẫn còn xanh dày và con người sống gần với rừng hơn là với phố. Đây là vùng đất của người Tà Ôi và người Pa Cô, hai dân tộc đã gắn bó với những thung lũng này qua nhiều đời. Thác không chỉ là cảnh đẹp của thiên nhiên, nó còn là trung tâm của một làng du lịch cộng đồng mà chính người địa phương xây dựng và giữ gìn.
Cả nhà hãy tưởng tượng một buổi sáng ở đây cùng với những đứa trẻ người Pa Cô. Chúng biết từng tảng đá, từng khúc ngoặt của con suối dẫn lên thác ba tầng. Chúng chạy trước, quay lại gọi, rồi lại chạy tiếp. Tiếng nước reo mỗi lúc một to hơn. Đến tầng thác đầu tiên, hơi nước lạnh phả vào mặt, mát như ai đó vừa mở một cánh cửa từ bên trong núi.
Trưa xuống, mùi cá nướng lan khắp bìa rừng. Đó là cá suối, kẹp que tre, nướng trên than hồng theo cách người vùng cao vẫn làm từ lâu. Ăn xong, lũ trẻ kéo nhau vào bản. Ai đó bắt đầu gõ nhịp, rồi một điệu múa của người Pa Cô bắt đầu, không phải biểu diễn cho khách, mà là điệu múa của bản làng, dành cho những người đang ngồi cùng họ.
A Lưới có một chiều sâu mà bản đồ không ghi được. Nó nằm ở khoảng cách giữa Huế phố và Huế rừng, giữa kinh thành và thung lũng, giữa tiếng trống hội và tiếng suối chảy. Thác A Nôr là một trong những nơi cả nhà có thể cảm thấy khoảng cách đó thu lại, khi tiếng nước, tiếng người, và tiếng gió cùng vang lên một lúc.
Đứng dưới tầng thác cuối, ngước mắt nhìn lên, nước trắng kéo dài từ trên cao xuống như một dải lụa mà núi đang giữ trong tay. Ở đây, Huế không phải là thành quách hay lăng tẩm. Huế là rừng, là suối, là tiếng cười của những đứa trẻ Pa Cô dẫn đường lên thác ba tầng vào một buổi sáng còn đẫm sương.