Cầu Thuận Phước
Bốn trăm lẻ năm mét. Đó là khoảng cách giữa hai ngọn tháp của cây cầu này, và giữa hai ngọn tháp ấy chẳng có một chân trụ nào đứng dưới nước đỡ lấy mặt cầu. Bốn trăm lẻ năm mét là gần bốn sân bóng đá nối đuôi nhau. Một người lớn đi từ tháp này sang tháp kia phải bước chừng năm trăm bước, và suốt quãng đường ấy, dưới chân chỉ có gió, có nước, và những sợi cáp thép kéo mặt cầu lên từ trên cao.
Cây cầu ấy là cầu Thuận Phước, đứng ở nơi sông Hàn chạy ra khỏi thành phố để gặp vịnh Đà Nẵng. Trong các cầu bắc qua sông Hàn, đây là cây cuối cùng trên đường ra biển. Người ta vẫn gọi nó là cây cầu treo dây võng dài nhất Việt Nam. Hai sợi cáp chủ vắt lên đỉnh hai ngọn tháp, rồi võng xuống giữa nhịp giống hệt những đường dây điện cao thế kéo qua cánh đồng. Từ hai sợi cáp lớn ấy, hàng loạt sợi cáp nhỏ thả xuống, nâng mặt cầu lơ lửng giữa trời và nước.
Vì sao người Đà Nẵng lại chọn dựng một cây cầu như thế ngay cửa sông? Các chú các bác làm nghề cầu đường kể rằng thành phố muốn một cây cầu du lịch. Họ muốn kéo bờ sông, bờ biển về phía bán đảo Sơn Trà, để người ta có lý do đi ra tận phía đông ngắm biển. Dự án cũng không đặt nặng chuyện nâng sức chịu tải cho xe chở hàng, vì khi ấy đã có quy hoạch những cây cầu khác làm việc ấy. Có người làm nghề lâu năm còn nói thẳng rằng, qua một cửa sông rộng, nhiều nơi trên thế giới chọn đào hầm cho gọn, nhưng thành phố này muốn người đi đường được nhìn thấy cảnh mình đang đi qua. Và họ nhắc đến những tầm nhìn ở Hồng Kông như một điều đã làm các nhà quyết định ngày ấy nghĩ nhiều.
Nhưng đặt một cây cầu treo ngay miệng vịnh thì phải nghĩ đến gió. Ở cửa sông, gió ngang từ biển thổi vào rất mạnh, nên các kỹ sư phải tính thật kỹ gió sẽ lướt qua mặt cầu như thế nào. Họ còn mang một mô hình nhỏ của dầm thép sang tận Trung Quốc để thử xem mặt cầu đứng vững thế nào trước gió. Từ phép thử ấy, họ tính ra được hệ số ổn định của mặt cầu trước gió.
Dưới đất cũng có chuyện bất ngờ. Để giữ chặt đầu cáp, người ta phải đào những giếng chìm thật sâu ở hai đầu cầu. Nhưng khi đào xuống, các kỹ sư thấy nền đất cứng hơn nhiều so với bản khảo sát. Họ phải dùng những tia nước áp lực cao để cắt đất. Một người trong cuộc ví việc ấy như đào giếng: nhìn tưởng đất mềm, đào xuống mới biết cứng.
Công trường mở từ tháng một năm hai nghìn lẻ ba. Khi hai ngọn tháp đã đứng vững, thợ cầu dựng một lối đi treo trên không, có dáng như chiếc thang nằm ngang vắt qua miệng vịnh, để người đi lại làm việc cho an toàn. Rồi những sợi cáp được kéo lên từng sợi một, căng ra, chỉnh cho đều, và gom lại thành những bó cáp lớn. Từ lúc khởi công đến lúc xong việc là hơn sáu năm trời.
Ngày hai mươi sáu tháng hai năm hai nghìn lẻ chín, hai đầu mặt cầu được nối lại với nhau trong lễ hợp long. Gần năm tháng sau, vào ngày mười chín tháng bảy cùng năm, cầu khánh thành với sự có mặt của Thủ tướng. Cũng đúng hôm ấy, trên cùng dòng sông Hàn, người ta khởi công một cây cầu khác mang tên cầu Rồng. Thành phố khi ấy đang nối thêm những nhịp cầu mới, và Thuận Phước là cây vươn ra gần biển nhất.
Nếu cả nhà thích đếm những cây cầu, thì dòng sông này có cả một hàng. Cầu Nguyễn Văn Trỗi, giàn thép, hoàn thành năm một nghìn chín trăm sáu mươi lăm. Cầu quay sông Hàn, do kỹ sư Việt Nam tự thiết kế, làm xong vào quãng năm hai nghìn. Rồi đến Thuận Phước năm hai nghìn lẻ chín, và cầu Trần Thị Lý khánh thành năm hai nghìn mười ba. Mỗi cây cầu là thêm một nhịp nối hai bờ sông Hàn.
Mặt cầu Thuận Phước rộng mười tám mét, đủ cho bốn làn xe chạy cùng hai lối riêng cho người đi bộ. Cầu còn là đường nối cảng Tiên Sa và con đường Nguyễn Tất Thành với phía hầm Hải Vân, nên ngoài khách đi ngắm cảnh, nơi đây vẫn là một lối đi thật của thành phố. Bên dưới, tàu thuyền chui qua trong khoảng trống cao hai mươi bảy mét. Đến tối, hệ thống đèn được bố trí như một con chim đang dang rộng đôi cánh hướng ra khơi, và những mảng sáng đổi màu liên tục. Nhiều năm sau, thành phố cấm xe tải trên một tấn chạy qua, để giữ trật tự, an toàn giao thông và vẻ đẹp đô thị, vì cây cầu là một điểm nhấn của thành phố.
Bây giờ hãy nghĩ lại con số lúc đầu. Bốn trăm lẻ năm mét, chừng năm trăm bước chân. Ai đã từng đi dọc cầu vào lúc chiều xuống đều biết quãng ấy không hề dài. Gió từ vịnh thổi vào má, sông Hàn sáng lên một bên, biển mở ra bên kia, và người ta cứ bước mãi, bước mãi, như thể mình đang đi trên một sợi dây đàn khổng lồ căng giữa hai bờ.
Đèn trên cầu bật lên, đôi cánh chim sáng dần về phía biển, và gió thổi qua bốn trăm lẻ năm mét không một chân trụ ấy như gảy lên một sợi dây đàn.