Lễ tế Nam Giao
Dưới triều Nguyễn, có một việc mà cả nước chỉ một người được làm: tế Trời Đất. Hoàng thân, quan lại hay dân thường đều không được tự ý làm, trừ khi nhà vua giao phó. Ở các làng quê, ngay cả việc thắp đèn dâng sao cúng trời cũng bị coi là trái đạo trời, là lấy phần của nhà vua. Có năm nhà vua giao lễ cho hoàng thái tử Nguyễn Phúc Đảm đứng ra thay, vào năm một nghìn tám trăm mười tám. Vậy lễ ấy nặng đến mức nào, mà chỉ vua mới được cầm lấy?
Vua là thiên tử, con của Trời, nên lễ tế Nam Giao thuộc về vua và chỉ vua. Đêm tế bắt đầu vào hai giờ sáng, giữa rừng thông phía nam kinh thành Huế, khi nhà vua bước ra khỏi Trai Cung. Ngài mặc áo long cổn thêu mười hai hình, đội mũ triện rủ mười hai dải. Các quan có phận sự cùng dự lễ, còn người không có phận sự thì không được bước vào khu đàn cho đến khi lễ xong. Từ giờ phút ấy, nghi lễ kéo dài khoảng ba tiếng đồng hồ, và chỉ một người đứng ở vị trí chủ tế.
Để có được khoảnh khắc hai giờ sáng ấy, triều đình chuẩn bị từ rất lâu. Sau Tết, Khâm Thiên Giám chọn ngày tốt rồi trình vua phê chuẩn. Ba ngày trước lễ, một hình người bằng đồng, mang tấm biển ghi ba chữ tĩnh trai giới, được đưa vào điện Cần Chánh. Từ lúc ấy nhà vua ăn chay, giữ lòng yên tĩnh. Ngài còn ban chiếu tạ ơn các quan và cho giảm án tù, như muốn bắt đầu cuộc nói chuyện với Trời bằng một tấm lòng nhẹ nhàng.
Ngày hôm trước, tám giờ sáng, nhà vua ngồi ngự liễn rời Hoàng Thành, theo đoàn rước đi lên đàn Nam Giao. Đoàn qua sông Hương bằng cầu phao kết từ thuyền, vì khi ấy chưa có cầu Trường Tiền. Dọc đường, dân chúng dựng cổng chào, bày hương án để đón đoàn rước đi qua. Chiều hôm ấy, ở đàn, các quan có phận sự tập lại toàn bộ nghi thức đầy đủ như lễ thật, chỉ thiếu một người là nhà vua. Người duy nhất không cần tập cũng là người mà cả buổi lễ xoay quanh.
Còn trên đàn thì sao? Ở tầng tròn trên cùng, bài vị Thiên Thượng đế và Hoàng Địa kỳ được đặt ở giữa, hai bên là các vị tổ của nhà Nguyễn. Xuống tầng vuông giữa, tám án thờ dành cho mặt trời, mặt trăng, các vì sao, núi biển sông hồ, mây mưa gió sấm, gò đống cồn bãi, các vị thần của năm tháng và muôn vàn thần linh trong thiên hạ. Tầng trên được che bằng một tòa nhà vải màu xanh, gọi là Thanh ốc. Tầng giữa có tòa nhà vải màu vàng, gọi là Hoàng ốc. Xanh ở trên cùng, vàng ở giữa, giữa rừng thông.
Nghi lễ có hàng trăm bước nhỏ, nhưng người nghe chỉ cần nhớ vài nhịp lớn. Đón thần. Dâng ngọc và lụa. Dâng rượu lần thứ nhất, lần thứ hai, rồi lần cuối. Đọc bài chúc văn gửi lên Trời. Rồi tiễn thần. Mỗi nhịp có tiếng hát đi cùng: chín khúc ca ngợi các vị thần và cầu cho đất nước bình yên, mỗi khúc có một điệu múa Bát Dật. Tất cả diễn ra giữa đêm khuya, trong khói hương và tiếng chiêng trống.
Người xưa dâng cả ngần ấy thứ để xin điều gì? Rất giản dị: mưa thuận gió hòa. Một đất nước sống bằng ruộng lúa thì cần mưa đến đúng lúc, nắng đến đúng độ. Vì thế trong tám án thờ ở tầng giữa, những vị thần coi mây, mưa, gió, sấm đều có chỗ ngồi.
Đàn được đắp lần đầu ở làng An Ninh vào năm một nghìn tám trăm lẻ ba, rồi năm một nghìn tám trăm lẻ sáu mới dời về phía nam Kinh Thành. Lễ tế đầu tiên ở đàn mới diễn ra ngày hai mươi bảy tháng ba năm một nghìn tám trăm lẻ bảy, dưới thời vua Gia Long. Từ đó, mỗi mùa xuân đều có lễ, cho đến năm một nghìn tám trăm tám mươi lăm. Khi kinh thành xảy ra biến cố, lễ phải ngưng nhiều năm. Rồi cuối thế kỷ mười chín, triều đình định ba năm tổ chức một lần, vào các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu. Tính cả triều đại, có chín mươi tám đại lễ do mười trong mười ba vị vua nhà Nguyễn chủ trì, hoặc trực tiếp, hoặc cử người thay.
Xong lễ, đoàn lại lên đường về. Nhạc, chiêng, trống vang lên dọc đường để báo cho dân chúng biết buổi tế đã thành, và theo niềm tin xưa, ước nguyện về một thiên hạ thái bình đã được Trời đất ghi nhận. Khi nhà vua đến Đại Cung môn, chín phát súng nổ và buổi lễ khép lại.
Ngày hai mươi ba tháng ba năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, dưới thời vua Bảo Đại, lễ tế cuối cùng của triều Nguyễn diễn ra. Chưa đầy sáu tháng sau, vương triều khép lại. Gần sáu mươi năm sau đó, lễ tế vắng bóng.
Rồi đến Festival Huế, những người làm bảo tồn di tích Cố đô dựng lại nghi lễ. Ban đầu chỉ có đoàn rước vua trở về. Đến năm hai nghìn lẻ sáu mới có đủ cả phần lễ, với gần sáu trăm người tham gia, lực lượng chính là nghệ sĩ nhà hát cung đình. Những kỳ sau, có lần buổi lễ chỉ kéo dài gần chín mươi phút, ngắn hơn nhiều so với ba tiếng xưa, nhưng phẩm vật được bày đủ lần đầu tiên, và lễ nhạc được cử đúng điển chế nhà Nguyễn. Có kỳ lễ diễn ra vào nửa đêm, có kỳ vào rạng sáng, với đại nhạc, tiểu nhạc, chiêng trống và hương trầm.
Khi tiếng trống lắng xuống, người dân bước vào đàn, thắp một nén hương. Nơi từng chỉ một người được đứng làm chủ tế nay có cả người dân đứng thắp hương. Mưa thuận gió hòa: lời xin giản dị ấy của người xưa là điều đàn tế này được dựng lên để nói.