Động Phong Nha
Cả nhà thử tưởng tượng điều này nhé.
Cuối năm một nghìn tám trăm chín mươi chín, ở một khúc sông yên ắng tại miền Trung Việt Nam, có một ông linh mục người Pháp ngồi trên chiếc thuyền độc mộc, tay cầm cây đèn dầu nhỏ xíu. Ông nghe người dân kể rằng trong dãy núi đá vôi kia có một cái hang khổng lồ, sâu thăm thẳm, chưa ai dám đi tới đáy. Ông quyết định chèo vào.
Sau hơn sáu trăm mét vật lộn với bóng tối, ông giơ đèn lên và sững người. Trước mặt ông là một tấm bia đá khắc chín mươi bảy ký tự lạ. Bên cạnh là bệ thờ, là gạch nung, là những mảnh gốm và đĩa cổ. Ai đó đã ở đây trước ông cả một nghìn năm.
Vị linh mục ấy tên là Léopold Cadière. Và cái hang đó, cả nhà ơi, chính là Động Phong Nha. Hôm nay cả nhà mình sắp ghé thăm.
Phong Nha không phải một cái hang bình thường. Nó nằm trong lòng dãy Trường Sơn, lõi của Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng. Toàn bộ hang dài hơn bảy nghìn bảy trăm mét. Có một con sông chảy ngầm bên trong, dài gần mười bốn cây số. Mà đó mới là phần các nhà khoa học đo được thôi. Phần đường hầm xa hơn nữa, người ta đã khảo sát được hơn hai trăm hai mươi cây số. Hai trăm hai mươi cây số đường ngầm dưới lòng núi. Cả nhà tưởng tượng được không?
Khách du lịch như chúng ta chỉ được vào khoảng một nghìn rưởi mét đầu. Phần còn lại vẫn là bí mật.
Quay lại với ông Cadière. Sau khi tìm thấy tấm bia chín mươi bảy ký tự đó, ông viết thư báo cáo phát hiện cho ông giám đốc Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp. Cadière đã ấn tượng đến mức ông gọi Phong Nha là đệ nhất động Đông Dương. Nghĩa là cái hang số một của cả vùng. Đó là lời của ông, không phải danh hiệu chính thức, nhưng nó cho thấy ông đã choáng váng đến cỡ nào.
Còn tấm bia kia? Mãi gần một thế kỷ sau, một giáo sư khác tên là Arlo Griffiths mới định được niên đại của nó. Tấm bia có từ đầu thế kỷ thứ mười một. Tức là cách chúng ta khoảng một nghìn năm. Người Chăm cổ đã dùng hang này làm nơi thờ tự. Họ vào đây bằng cách nào, mang gạch và tượng Phật vào ra sao, đến giờ vẫn chưa rõ. Và chín mươi bảy ký tự kia, đến tận hôm nay, vẫn chưa được giải mã hoàn chỉnh.
Đó là một bí mật. Còn đây là một bí mật khác.
Đến đầu thập niên một nghìn chín trăm chín mươi, một đoàn nhà khoa học từ Hiệp hội nghiên cứu hang động Hoàng gia Anh sang Việt Nam. Họ hợp tác với các giáo sư Việt Nam. Năm một nghìn chín trăm chín mươi hai, đoàn mười hai chuyên gia Anh và sáu giáo sư Việt Nam đo được bảy nghìn bảy trăm hai mươi chín mét hang Phong Nha. Mười ba năm sau, một đoàn khác phát hiện hang Thiên Đường gần đó. Đến năm hai nghìn lẻ chín, họ tìm thấy hai mươi cái hang mới chỉ trong một chuyến đi. Một trong số đó là hang Sơn Đoòng. Hang lớn nhất thế giới mà chúng ta hay nghe trên ti vi. Tất cả đều bắt đầu từ Phong Nha.
Năm một nghìn chín trăm chín mươi bốn, một Hội nghị khoa học hang động quốc tế họp ở Hà Nội. Các chuyên gia thế giới chấm Phong Nha vào nhóm hang nước đẹp nhất theo bảy tiêu chí. Cả nhà nghe thử nhé.
Một, hang nước dài nhất. Hai, cửa hang cao và rộng nhất. Ba, hồ ngầm đẹp nhất. Bốn, hang khô rộng và đẹp nhất. Năm, bãi cát và bãi đá ngầm đẹp nhất. Sáu, sông ngầm dài và đẹp nhất. Bảy, hệ thống thạch nhũ tráng lệ nhất.
Bảy tiêu chí cho một cái hang. Bảy.
Và lịch sử của khối đá vôi này còn dài hơn nữa. Theo hồ sơ của UNESCO, hệ núi đá vôi Phong Nha – Kẻ Bàng hình thành từ kỷ Cổ sinh, khoảng bốn trăm triệu năm trước. Khi đó loài khủng long còn chưa xuất hiện. Đây được coi là khối núi đá vôi cổ nhất ở châu Á.
Năm hai nghìn lẻ ba, UNESCO chính thức ghi tên Phong Nha vào danh sách Di sản Thiên nhiên Thế giới. Năm hai nghìn mười lăm, UNESCO mở rộng tiêu chí. Và năm hai nghìn hai mươi lăm, tức là năm ngoái thôi, UNESCO công nhận khu vực này hợp nhất với vườn quốc gia Hin Nam Nô của nước bạn Lào, thành di sản thiên nhiên xuyên biên giới đầu tiên của Việt Nam. Hai nước, một di sản, hai trăm mười bảy nghìn héc-ta được bảo vệ chung.
Bây giờ chúng ta đi vào hang nhé.
Cả nhà sẽ ra bến thuyền Phong Nha, lên một chiếc thuyền máy mười hai chỗ. Thuyền đi ngược dòng sông Son khoảng ba mươi phút. Hai bên là làng mạc, ruộng ngô, những đồi đá vôi mọc thẳng đứng. Nước sông mùa khô có màu xanh ngọc rất đẹp. Mùa mưa thì đỏ phù sa, do mạch nước ngầm cuốn theo bùn từ trong núi ra.
Rồi cửa hang hiện ra. Cao mười mét, rộng từ hai mươi đến hai mươi lăm mét. Cả nhà tưởng tượng một cánh cửa cao gần bằng tòa nhà ba tầng và rộng hơn cả con đường. Lúc đó bác lái thuyền sẽ tắt máy. Tắt máy vì hai lý do. Một là để bảo vệ không khí trong hang. Hai là để mọi người được nghe tiếng nước chảy của con sông ngầm.
Bác lái cầm mái chèo. Thuyền lướt nhẹ vào trong. Đèn được lắp ở các điểm soi sáng những khối thạch nhũ. Và đây là chỗ thú vị. Người dân địa phương ngày xưa, khi vào hang soi đèn dầu, đã đặt tên cho các khối nhũ theo hình dạng họ nhìn thấy.
Có khối Sư Tử, vì giống đầu sư tử có bờm. Có khối Kỳ Lân, gợi đến con vật trong truyện cổ. Có khối Cung Đình, vì những hàng cột thạch nhũ thẳng tăm tắp như cột điện vua. Có Mái Nhà Rồng trên trần hang. Có khối Đức Phật và khối Quan Âm. Việc đặt tên hai khối Phật và Quan Âm không phải tình cờ đâu, vì sâu trong hang có cái khoang Bi Ký mà người Chăm cổ từng thờ Phật cả nghìn năm trước.
Có một điều mà cô chú hướng dẫn viên giỏi sẽ luôn nói rõ. Đây là tên gọi du lịch theo hình dạng tự nhiên. Không phải tên địa chất, không phải tên có sẵn. Mỗi người nhìn có thể thấy hình khác nhau. Đó mới là điều thú vị của hang động.
Sau khoảng một nghìn hai trăm mét chèo tay, thuyền cập vào một bãi cát mịn trong lòng hang. Bãi cát này tên là Bãi Cát Tiên, theo tài liệu của Vườn quốc gia. Lúc này cả nhà lên bờ, đi theo cầu thang vào hai hang khô. Hang đầu tiên tên là Tiên Sơn, dài chín trăm tám mươi mét, được người dân phát hiện năm một nghìn chín trăm ba mươi lăm. Hang thứ hai tên là Cung Đình.
Trong hai hang khô này có rất nhiều khối nhũ với những cái tên đẹp như cổ tích. Chuông Vàng. Tóc Cô Tiên. Buồng Cô Tiên. Giường Vua. Ruộng Bậc Thang. Theo dân gian kể lại, các nàng tiên hay xuống vùng này tắm, nên mới có Tóc Cô Tiên và Buồng Cô Tiên. Xin lưu ý đây là chuyện dân gian, không phải sự thật lịch sử. Nhưng nghe vẫn rất hay.
Tấm bia chín mươi bảy ký tự mà ông Cadière tìm thấy từng bị nhiều du khách thế kỷ hai mươi viết và vẽ đè lên, đến giờ vẫn còn những vết không xóa được. Mỗi vết đó là một mảnh lịch sử nghìn năm bị xóa đi mãi mãi.
Khi quay ra, cả nhà nhớ ngẩng đầu nhìn các nhũ đá nhỏ ở cửa hang. Theo cách giải thích phổ biến trong sách du lịch, chính những nhũ đá hình giống răng, và làn gió thổi qua cửa, đã làm nên cái tên Phong Nha. Phong là gió, Nha là răng. Đây là cách kể phổ biến. Các nhà ngôn ngữ học chưa kết luận chính thức. Nhưng đứng ở cửa hang nghe gió thổi qua những răng đá, cả nhà sẽ thấy cách lý giải đó có lý lắm.
Trước khi kết thúc, cả nhà ghi nhớ thêm ba chi tiết thú vị nhé.
Một. Có một con đường gọi là đường Hai Mươi Quyết Thắng. Tuyến đường huyền thoại trong kháng chiến chống Mỹ nối hai sườn Trường Sơn. Điểm khởi đầu, cây số không của con đường đó, chính là bến thuyền Phong Nha. Chỗ chúng ta lên thuyền vào hang.
Hai. Có nhiều người tưởng nhầm rằng Hang Chỉ Huy của bộ đội Trường Sơn nằm bên trong Động Phong Nha. Không phải. Hang Chỉ Huy nằm ở cây số mười hai trên đường Hai Mươi Quyết Thắng. Đó là một hang khác, không nằm trong Động Phong Nha. Hai địa danh hoàn toàn khác nhau.
Ba. Trước năm hai nghìn hai mươi lăm, Phong Nha thuộc tỉnh Quảng Bình. Sau khi cả nước sắp xếp lại đơn vị hành chính, Phong Nha nay thuộc tỉnh Quảng Trị. Cùng một cái hang, đổi tên tỉnh trên giấy tờ.
Vậy là cả nhà đã đi qua bốn trăm triệu năm địa chất, một nghìn năm lịch sử Chăm, một thế kỷ kể từ khi ông Cadière chèo thuyền vào, và hai mươi phút trong bóng tối kỳ ảo của Động Phong Nha. Phong Nha không chỉ là một cái hang. Nó là một bí mật mà mỗi thế hệ chỉ giải mã được thêm một chút. Chuyến đi này, cả nhà mình tiếp tục câu chuyện đó.