Vịnh Lăng Cô
Trời còn chưa sáng, những chiếc thuyền đã nhích ra giữa đầm Lập An. Người làng chống sào, kéo căng dây thừng, nhấc từng chiếc lốp lên khỏi mặt đầm, nước còn nhỏ giọt từ đó. Vào mùa thu hoạch hàu, người làng Lăng Cô ra đầm từ sớm tinh mơ, khi mặt nước còn phẳng đến mức chưa có gợn sóng nào kịp đặt chân.
Những chiếc lốp ấy là cái nôi của hàu. Người ta cắt đôi lốp xe cũ, buộc vào dây, treo vào những hàng cọc đóng sâu xuống đáy đầm, cho lốp chìm dưới mặt nước chừng ba mươi phân. Ấu trùng hàu sống tự nhiên trong đầm, cứ thế mà bám vào, lớn dần lên trong bóng tối dưới nước. Có lúc, riêng những hàng cọc trên đầm đã hơn một trăm bốn mươi nghìn chiếc, treo hơn một triệu chiếc lốp. Đứng trên bờ nhìn ra, cả một đầm nước như một cánh đồng cọc mọc lên giữa gương.
Nghề này còn trẻ hơn người ta tưởng. Trước những năm hai nghìn, người dân chỉ nhặt hàu mọc hoang. Từ khoảng năm hai nghìn, họ bắt đầu nuôi hàu trên dây, trên giàn, trên cọc, rồi đến năm hai nghìn không trăm lẻ ba thì nghề mở rộng rất nhanh, hàng cọc dài thêm mỗi mùa. Một mẻ hàu cần chừng chín đến mười một tháng để lớn. Vì thế các hộ nuôi thả gối đầu, mẻ này vừa thu thì mẻ sau đã nằm sẵn dưới nước, để quanh năm đều có hàu bán.
Lên đến bờ, công việc mới thật sự bắt đầu. Hàu mọc dày đặc trên lốp, vỏ sắc dễ cứa tay, nên người ta đeo găng. Bên mép đường chạy dọc đầm, những người phụ nữ ngồi tách hàu bằng dao nhỏ. Hàu đá của đầm Lập An vỏ dày, thịt chắc, nướng lên hay nấu cháo đều ngon. Chừng năm trăm hộ ở xã Chân Mây Lăng Cô, thành phố Huế, làm nghề nuôi trồng trên mặt đầm rộng hơn một nghìn sáu trăm héc ta này.
Hàu lớn lên trong thứ nước nào? Phải nhìn lên núi mới hiểu. Phía sau đầm là dãy Bạch Mã, nơi mây phủ quanh năm trên những cánh rừng cao quá chín trăm mét, mưa nhiều đến mức đỉnh núi thuộc hàng mưa nhiều nhất cả nước. Nước ngọt từ đó chảy xuống đầm. Phía trước, đất Lăng Cô như cánh tay chắn ngang, không cho đầm mở hẳn ra biển. Nước ngọt gặp nước mặn, không ngọt hẳn cũng không mặn hẳn, và hàu đầm Lập An lớn lên trong đúng thứ nước lưng chừng ấy.
Khi mặt trời lên cao, nắng tràn sang bên kia dải đất, nơi bãi biển trải dài hơn mười cây số. Cát trắng, mịn và thoải xuống nước. Vịnh cong nhẹ vào trong như một vòng tay, nên sóng chạm bờ hiền hòa. Mùa hè, nước chuyển sang màu xanh ngọc. Năm hai nghìn không trăm lẻ chín, vịnh Lăng Cô được một câu lạc bộ quốc tế về những vịnh đẹp kết nạp, nhưng người làng thì quen nhìn nó từ lâu trước đó.
Gần trưa, mắt người cứ dõi theo con đường về phía chân đèo Hải Vân. Con đèo dài hai mươi mốt cây số, chỗ cao nhất bốn trăm chín mươi sáu mét. Từ năm hai nghìn không trăm lẻ năm, xe cộ chui qua hầm dài sáu nghìn hai trăm tám mươi mét, quãng đường từng mất hơn một tiếng nay chỉ còn chừng mười lăm phút. Nhưng tàu hỏa thì vẫn leo lối cũ. Nó men theo sườn núi, một bên là biển, một bên là rừng, và những chuyến tàu du lịch còn dừng lại ở ga Lăng Cô dưới chân đèo cho hành khách kịp nhìn vịnh thêm một lần.
Buổi chiều, quanh các xóm Hói Dừa, Hói Cạn, An Cư Đông, người già thường kể chuyện cũ, về những năm tháng trước khi có hàu, khi đầm đã nuôi người làng bằng những cách khác. Một cụ ông bảy mươi tám tuổi ở Hói Cạn còn nhớ thời chưa có điện, cả xóm đi đánh cá trên những chiếc thuyền nhỏ, với lưới, giỏ và cần câu. Đêm xuống, nhà nào cũng thắp đèn dầu thật tiết kiệm, rồi ngồi đan lưới, đan giỏ bằng tre mây để kiếm thêm. Một bà ở Hói Dừa kể tổ tiên mình từ vùng Hòa Vang, Đà Nẵng, vào đây từ đầu thế kỷ hai mươi, sống bằng làm ruộng, đốt than và đánh cá trên đầm. Đến năm một nghìn chín trăm năm mươi bốn, lại có người từ Quảng Trị vào ở. Ngày giỗ, ngày Tết, nhiều nhà vẫn đặt chiếc bánh thửng lên bàn thờ, còn bữa cơm đông người thì có mì Quảng và chén mắm nêm.
Vào dịp lễ hội, làng còn đua thúng. Người chơi không được dùng mái chèo, chỉ hai tay bám vào miệng thúng, đẩy đưa sao cho chiếc thúng tròn lướt đi mà không lật. Cả nhà cứ hình dung tiếng reo hò trên bờ cát trắng, những chiếc thúng xoay tròn trên mặt nước, còn phía xa thì đèo Hải Vân lặng lẽ nhìn xuống.
Rồi nắng nghiêng. Người ta kể rằng ngày xưa chỗ này tên là Làng Cò, vì chiều chiều từng đàn cò bay về ngủ bên đầm Lập An. Người ta kể tiếp rằng người Pháp tới, đọc trại đi thành Lăng Cô. Chuyện ấy chỉ truyền miệng, chưa có giấy tờ nào kiểm chứng. Còn điều ai cũng thấy được là lúc chiều muộn, màu mây ngả xuống mặt nước, và núi Bạch Mã phía sau lùi dần vào sương.
Thuyền cuối cùng cập bến. Những tấm lốp sạch vỏ được phơi cho khô, rồi lại thả xuống đầm cho vụ sau. Trên mặt đầm đã im gió, các hàng cọc đứng lặng thành hàng giữa trời chiều, mỗi cọc mang một chuỗi lốp chìm dưới nước, và ở dưới ấy, những con hàu nhỏ vẫn lặng lẽ lớn thêm một đêm nữa.