Chùa Ba La Mật
Có những ngôi chùa được dựng lên không chỉ vì lòng mộ đạo, mà vì một tình yêu thương lớn hơn cả lời nói. Chùa Ba La Mật ở Huế là một trong số đó.
Năm một nghìn tám trăm tám mươi sáu, phu nhân Thanh Trất Từ Thiện dựng ngôi chùa này cho chồng bà là quan Bố chánh Nguyễn Khoa Luận. Ông là người của triều Nguyễn, một chức quan quyền thế trong bộ máy cai trị xứ Huế. Rồi đến một ngày, ông bước ra khỏi chốn quan trường, cởi bỏ áo mão, và xuất gia làm sư.
Bà vợ không ngăn cản. Bà xây cho ông một nơi để tu.
Và bà đặt tên ngôi chùa là Ba La Mật. Trong tiếng Phật học, Ba La Mật nghĩa là vượt sang bờ giác ngộ, hay còn gọi là bờ bên kia, nơi thoát khỏi những ràng buộc của thế gian. Cái tên ấy không phải ngẫu nhiên. Đó là lời bà gửi cho ông, lời chúc bình an và giải thoát, được khắc vào gạch ngói, vào hương khói, vào dáng mái chùa nằm yên giữa đất Phú Thượng, Phú Vang.
Cả nhà hãy thử hình dung cảnh tượng đó. Một người đàn ông từng điều hành một tỉnh, nay khoác áo nâu sồng ngồi thiền trong khuôn viên do chính người vợ dựng lên. Một người phụ nữ đứng nhìn công trình hoàn thành, biết rằng mình không giữ chồng lại, nhưng đã giữ ông trong một vòng tay khác, yên tĩnh hơn và rộng hơn bất kỳ dinh thự nào.
Ngôi chùa không lớn. Nhưng câu chuyện phía sau nó mang một chiều sâu mà nhiều công trình hoành tráng không có được.
Cố đô Huế có hàng trăm ngôi chùa, đình, miếu, lăng tẩm trải dài suốt nhiều triều đại. Giữa một không gian dày đặc ký ức như vậy, Chùa Ba La Mật đứng im lặng ở một góc của Phú Vang, không đòi hỏi sự chú ý. Nhưng ai một lần biết câu chuyện của nó, sẽ không thể đi qua mà không dừng lại.
Hương trầm trong không gian chùa nhỏ, mái ngói rêu phong, tiếng chuông buổi sớm vọng ra giữa khu vườn tĩnh lặng. Đó là những gì một người quan triều Nguyễn từng nghe, từng sống, sau khi quyết định buông bỏ tất cả.
Bước vào Chùa Ba La Mật, cả nhà sẽ bước vào một câu chuyện của lòng từ bi và sự buông bỏ, câu chuyện về một người đàn bà xây chùa cho chồng và một người đàn ông chọn bờ bên kia.