Chùa Diệu Đế
Trên trần chính điện một ngôi chùa ở Huế có chín con rồng.
Tám con giống nhau. Một con thì không.
Và điều lạ nhất là đến tận hôm nay, vẫn chưa ai nói chắc được ai đã vẽ chúng.
Ngôi chùa ấy tên là Diệu Đế. Chùa nằm bên bờ sông Hộ Thành, ngay gần cầu Gia Hội và sông Đông Ba, trên đường Bạch Đằng. Khuôn viên rộng đến mức nằm gọn giữa bốn con đường: phía trước là Bạch Đằng, phía sau là Tô Hiến Thành, một bên là con đường mang chính tên ngôi chùa, bên kia là đường Chùa Ông. Ngoài cùng là cổng Tam Quan hai tầng, phía trên có lầu Hộ Pháp trông xuống. Qua khỏi cổng, một lối lát gạch Bát Tràng dẫn thẳng vào chính điện, hai bên cây phủ bóng mát rượi. Chỉ mấy bước chân thôi mà tiếng ồn ngoài phố đã ở lại phía sau.
Nhưng trước khi có chùa, chỗ này là một ngôi nhà.
Ngôi nhà ấy của Phúc Quốc Công, ông ngoại vua Thiệu Trị. Năm một nghìn tám trăm lẻ bảy, một cậu bé chào đời trong ngôi nhà đó. Cậu bé lớn lên, và trở thành vị hoàng đế thứ ba của triều Nguyễn.
Nhiều người khi có quyền lực thường dựng lên một thứ gì đó để ghi tên mình. Vua Thiệu Trị thì làm khác. Năm một nghìn tám trăm bốn mươi bốn, theo đề xuất của Thống quản thị vệ Vũ Văn Giải, nhà vua cho lập chùa Diệu Đế ngay trên nền nhà xưa, và ghi rõ mục đích: để cầu phúc cho nhân dân. Chùa được sắc phong làm Quốc tự, tức là chùa của cả nước. Sáu trăm binh lính được điều động về đây để dựng chùa. Từ đó, Diệu Đế đứng cùng hàng với chùa Thiên Mụ và chùa Thánh Duyên, những ngôi quốc tự mà cả triều đình hướng về.
Chùa ngày ấy rộng khoảng hai nghìn năm trăm mét vuông, có la thành bao quanh, bên trong chừng mười công trình lớn nhỏ. Riêng lầu đã có bốn cái: hai lầu chuông, một lầu trống, một lầu bia. Chính điện tên là Đại Giác. Hai bên tả hữu là Thiền Đường. Phía trước có gác Đạo Nguyên hai tầng ba gian, chính giữa là lầu Hộ Pháp. Ngoài sân trước dựng hai nhà lục giác nhỏ, mái sáu cạnh xoè ra như hai chiếc nón. Nhà bên trái đặt quả hồng chung. Nhà bên phải dựng một tấm bia lớn, khắc bài văn do chính nhà vua viết.
Vòng la thành bên ngoài mở ra bằng Phượng Môn ba cửa. Và vì chùa quay mặt ra sông, ngày xưa phía trước có tới ba bến thuyền. Người đi lễ ngày ấy không đi bộ tới cổng chùa. Họ chèo thuyền tới. Bây giờ chỉ còn lại một bến, nằm ngay trước cổng Tam Quan, nhưng đứng đó mà nhìn ra mặt nước, vẫn hình dung được cảnh những chiếc thuyền cập bến vào một sớm mai nào đó rất xa.
Trong chùa còn hai quả đại hồng chung. Một quả đặt ở Chung đình gần tam quan, một quả treo trên lầu chuông bên trái chính điện.
Chuyện đúc quả chuông thứ nhất được chép lại khá tỉ mỉ. Chính vua Thiệu Trị đứng ra chủ trì. Nhà vua lập hẳn một ban phụ trách đúc chuông, gồm người của ba bộ Công, Lễ và Hộ. Khâm Thiên giám lo việc chọn cho được một ngày tốt. Việc đúc kéo dài hơn hai tháng. Đúc xong, chùa thiết một đại trai đàn suốt bảy ngày bảy đêm để cầu cho quốc thái dân an, rồi mới khai chuông.
Bảy ngày bảy đêm, chỉ để một quả chuông cất tiếng lần đầu.
Quả chuông thứ hai là quả vẫn còn làm việc. Người ta đánh nó vào các buổi sáng sớm, và vào những lễ Phật lớn. Thành phố bên ngoài đã đổi thay rất nhiều lần, còn ở góc sông này, buổi sáng vẫn được mở ra bằng một tiếng đồng cũ.
Bây giờ thì ngẩng lên.
Cả trần chính điện là một bức tranh, tên là "Long Vân Khế Hội", nghĩa là rồng và mây gặp gỡ nhau. Trên trần điện Đại Giác có năm con rồng uốn lượn, ẩn hiện trong các tầng mây. Nhìn lâu một chút mới thấy hết, bởi những tầng mây được vẽ đậm nhạt khác nhau, chỗ dày chỗ mỏng, có con rồng lộ nguyên thân, có con chỉ ló ra một khúc lưng rồi lại khuất vào mây. Rồi hạ mắt xuống bốn cây cột lớn đỡ mái: mỗi cột có một con rồng quấn quanh. Bốn con nữa.
Năm cộng bốn là chín.
Bức tranh ấy mỗi bề chừng mười mét, lớn đến mức người đứng bên dưới phải xoay người mới nhìn hết. Vào tháng ba năm hai nghìn lẻ tám, Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã công nhận đây là bức tranh vẽ trên trần chính điện xưa và lớn nhất Việt Nam.
Con số chín không phải ngẫu nhiên. Chín đọc theo Hán tự là "cửu", chính chữ "cửu" trong "vĩnh cửu", nghĩa là trường tồn, bền vững. Người xưa đặt chín con rồng lên trần chùa là đang gửi lên đó một lời chúc cho ngôi chùa đứng mãi.
Và bây giờ là chỗ lạ nhất của bức tranh.
Ngày xưa, người ta không vẽ rồng tuỳ ý. Số móng trên chân rồng là một quy định nghiêm ngặt. Rồng năm móng dành riêng cho vua, cho hoàng đế. Rồng bốn móng dành cho người trong hoàng tộc. Rồng ba móng là của quan viên các cấp. Nhìn vào chân một con rồng, người xưa biết ngay nó thuộc về ai.
Trong chín con rồng ở Diệu Đế, tám con có năm móng. Một con có bốn.
Chỉ một con thôi, lệch khỏi hàng.
Các nhà nghiên cứu cho rằng con rồng bốn móng ấy thể hiện sự giao thoa giữa nghệ thuật cung đình và nghệ thuật dân gian. Nói cách khác, giữa một bức tranh làm cho chùa của vua, ở nơi mọi thứ đều phải đúng phép tắc, có một nét dân gian lặng lẽ len được vào và ở lại luôn tới giờ.
Vậy ai đã vẽ? Ai là người trèo lên đó, nằm ngửa dưới trần, và đặt chín con rồng vào mây?
Không ai biết chắc.
Có người nói đó là nghệ nhân Phan Văn Tánh, tác giả bức "Cửu long ẩn vân" trên trần lăng Khải Định. Ông vẽ tranh theo một cách rất khó tin: kẹp cọ ở cả hai tay lẫn hai chân, miệng còn ngậm thêm một cây nữa. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng bức tranh này ra đời trong một đợt trùng tu giữa những năm năm mươi của thế kỷ trước, và nếu vậy thì mốc thời gian không khớp với ông. Hai lối giải thích cứ đứng đó, chưa bên nào thắng. Bức tranh giữ kín tên người vẽ, y hệt cách nó giữ kín những con rồng trong mây.
Bên dưới bức trần ấy, chính điện thờ tượng Tam Thế Phật ở giữa, xung quanh là các tượng A-Nan, Ca-Diếp, Di Lặc và Chuẩn Đề Phật. Hai bên đặt Bát Bộ Kim Cang. Và ở một góc, có khám thờ vua Thiệu Trị cùng một vài công chúa, hoàng tử.
Cả nhà để ý điều này nhé: ngôi nhà nơi ông sinh ra đã trở thành chùa, mà trong chùa vẫn dành lại một chỗ cho ông.
Chùa còn giữ những pho tượng Phật từ thế kỷ mười chín, chuông đồng, bia đá. Kiến trúc phần lớn làm bằng gỗ, thứ vật liệu ấm và biết cũ đi một cách đẹp đẽ. Cây trong sân nhiều nên không khí lúc nào cũng mát, kể cả giữa trưa Huế nắng gắt.
Nếu một ngày nào đó gia đình mình đến Huế, hãy tìm tới bến sông ấy, đi qua cổng Tam Quan, theo lối gạch Bát Tràng vào tới chính điện. Rồi đứng yên, ngửa cổ lên, và đếm.
Năm con trong mây. Bốn con trên cột. Chín.
Xong rồi thì tìm tiếp con rồng có bốn móng.
Người vẽ nó đã đi rất xa, xa đến mức không ai còn giữ được tên. Nhưng bàn tay ấy thì vẫn còn nguyên trên trần điện, trong một con rồng cố ý khác với tám con còn lại, đợi ai đó ngước lên đủ lâu để nhận ra.