Chùa Một Cột
Giữa một hồ nước vuông nhỏ ở Hà Nội, một cột đá tròn đứng một mình, đỡ trên đầu nó cả một ngôi chùa bé xíu.
Ngôi chùa ấy vuông vức, mỗi cạnh chỉ chừng ba mét. Bốn góc mái uốn cong, trên nóc là hai con rồng chầu mặt nguyệt, người xưa gọi là lưỡng long chầu nguyệt. Quanh hồ là hàng lan can gạch sành tráng men xanh. Đứng dưới bờ nhìn lên, cả tòa đài trông như một đóa sen lớn vừa vươn lên khỏi mặt nước.
Người Hà Nội gọi nơi này bằng cái tên giản dị nhất: Chùa Một Cột. Nhưng tòa đài nhỏ ấy còn có một cái tên đẹp hơn, Liên Hoa Đài, nghĩa là đài hoa sen. Nó thuộc về một ngôi chùa mang tên Diên Hựu. Diên Hựu là hai chữ Hán, nghĩa là phúc lành dài lâu.
Vì sao một ngôi chùa lại đứng trên một chân, giữa một hồ nước? Câu trả lời bắt đầu từ một giấc mơ.
Truyền thuyết kể rằng, vào mùa đông năm Kỷ Sửu, tức năm một nghìn bốn mươi chín, vua Lý Thái Tông nằm mộng. Trong mơ, vua thấy Phật Bà Quan Âm ngồi trên tòa sen, đưa tay dắt vua lên đài. Tỉnh dậy, vua đem giấc mộng kể lại với các quan trong triều.
Một nhà sư tên là Thiền Tuệ khuyên vua dựng chùa. Hãy dựng một cột đá giữa hồ, rồi đặt tòa sen thờ Phật Quan Âm lên trên, đúng như hình ảnh vua đã thấy trong mộng. Chùa dựng xong, các nhà sư đi vòng quanh, vừa đi vừa tụng kinh, cầu cho nhà vua sống lâu. Cái tên Diên Hựu, phúc lành dài lâu, ra đời từ những vòng tụng kinh ấy.
Người xưa còn kể, cứ đến ngày mồng tám tháng Tư âm lịch hằng năm, nhà vua lại tới chùa làm lễ tắm Phật. Các nhà sư và người dân kinh thành Thăng Long cùng về dự. Vua đứng trên một đài cao trước chùa, thả một con chim bay đi. Một cánh chim nhỏ vút lên trời, giữa bao ánh mắt dõi theo.
Hơn nửa thế kỷ sau, năm một nghìn một trăm lẻ năm, vua Lý Nhân Tông cho sửa sang Liên Hoa Đài, đào thêm hồ Linh Chiểu và dựng tháp báu ở phía trước. Ngôi chùa thời Lý vì thế rộng lớn hơn bây giờ rất nhiều, là cả một quần thể có chùa, có hồ, có tháp.
Năm một nghìn hai trăm bốn mươi chín, đời Trần, chùa được sửa lại trên nền cũ. Qua các đời Lê, Nguyễn, chùa còn được trùng tu nhiều lần nữa. Quần thể rộng lớn thời Lý dần dần không còn. Nhưng cái dáng một cột đá đỡ một đài sen thì người đời sau vẫn giữ lại.
Rồi đến ngày mười một tháng Chín năm một nghìn chín trăm năm mươi bốn. Hôm ấy là Rằm tháng Tám âm lịch, ngày Tết Trung thu. Chỉ chưa đầy một tháng nữa là tới ngày tiếp quản Thủ đô.
Chất nổ được giấu dưới bát hương. Một tiếng nổ vang lên, và Liên Hoa Đài vỡ tan từ mặt sàn trở lên. Ai là người đặt mìn, đến nay vẫn còn nhiều giả thuyết khác nhau, chưa có kết luận rõ ràng.
Nhưng có hai thứ vẫn ở lại. Cột đá vẫn đứng nguyên giữa hồ. Và pho tượng Quan Âm vẫn ngồi y nguyên ngay gần đó, chỉ bị rời mấy cánh tay gỗ chắp.
Ngày mười tháng Mười năm một nghìn chín trăm năm mươi bốn, Hà Nội được tiếp quản. Vài tháng sau, Nhà nước quyết định dựng lại Liên Hoa Đài. Người được giao việc là kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng, khi ấy làm ở Sở Bảo tồn Cổ tích.
Ngôi chùa thời Lý đã mất từ lâu. Thứ người ta dựa vào là một tấm ảnh cũ, chụp khoảng cuối thế kỷ mười chín, của Trường Viễn Đông Bác cổ. Từ tấm ảnh ấy, bản vẽ được dựng lại. Cột đá cũ được giữ nguyên. Đôi rồng trên nóc mái được làm lại theo dáng xưa. Lan can trên đài được chạm theo mẫu ở chùa Tam Sơn, còn mảng chạm phía sau bàn thờ được làm theo mẫu ở đình Đình Bảng, đều ở Bắc Ninh.
Ngày một tháng Một năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, công trường khởi công. Chỉ sáu mươi hai ngày sau, Liên Hoa Đài đã đứng lại trên cột đá. Dáng chùa hôm nay vì thế mang kiến trúc thời Nguyễn, chứ không phải dáng nguyên gốc thời Lý.
Bây giờ, nếu đứng sát mép hồ, mình sẽ thấy cột đá thật ra gồm hai khúc chồng lên nhau, ghép khít đến mức trông như một khối liền. Cột to một phẩy hai mét, cao chừng bốn mét, chưa kể phần chìm dưới đất. Trên đầu cột, những đòn gỗ đỡ lấy sàn đài, như những cánh tay nâng một đóa hoa.
Lối lên đài có mười ba bậc thang. Các bạn nhỏ có thể đếm thử từng bậc, đủ mười ba bậc là tới cửa đài. Bên trong là pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát mạ vàng, ngồi trên một bông sen gỗ sơn son thiếp vàng. Phía trên tượng là bức hoành phi ba chữ Liên Hoa Đài.
Những cánh sen chạm trên cột đá, mà văn bia thời Lý từng nhắc tới, nay không còn nữa. Nhưng nhìn từ xa, cả tòa đài vẫn là một đóa sen. Có người còn thấy ở đây chuyện âm dương: vòng ngoài hình vuông tượng trưng cho âm, cột hình tròn tượng trưng cho dương.
Năm một nghìn chín trăm sáu mươi hai, chùa Một Cột được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Năm hai nghìn mười hai, tại thành phố Faridabad bên Ấn Độ, Tổ chức Kỷ lục châu Á ghi tên nó là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất châu Á. Không phải vì nó lớn nhất. Cũng không phải vì nó cổ nhất. Mà vì hiếm có nơi nào một cột đá tròn đơn độc lại đỡ cả một ngôi chùa vuông giữa mặt nước.
Gần một nghìn năm đã trôi qua kể từ giấc mơ của vua Lý. Chùa đã được sửa, được mở rộng, đã đổ xuống, rồi lại được dựng lên. Vậy mà giữa hồ nước vuông nhỏ ấy, cột đá tròn vẫn đứng một mình, lặng lẽ nâng trên đầu một đóa sen, như tòa sen mà Phật Bà đã dắt nhà vua bước lên trong mộng.