Chùa Một Cột
Cả nhà đang đứng trước một trong những hình ảnh quen thuộc nhất của Hà Nội, và có lẽ là công trình kiến trúc Phật giáo độc đáo nhất Việt Nam.
Tên chính thức là Liên Hoa Đài, thuộc quần thể Chùa Diên Hựu. "Diên Hựu", hai chữ Hán, nghĩa là "phúc lành kéo dài, trường tồn". Hình dáng của công trình mô phỏng một đoá sen nở trên mặt nước: cột tròn là thân sen, đài hình vuông là nhuỵ, mái cong là cánh sen, hồ vuông xung quanh là hồ sen. Toàn bộ không gian là một bài thơ kiến trúc về sự thanh khiết của đạo Phật.
Câu chuyện của chùa bắt đầu từ năm một nghìn không bốn mươi chín, dưới đời vua Lý Thái Tông. Theo thư tịch cổ và truyền thuyết, vua nằm mộng thấy Phật Bà Quan Âm ngồi trên toà sen và tay dắt vua lên đài. Khi tỉnh dậy, vua thuật lại với quần thần. Vị sư tên Thiền Tuệ đề xuất xây chùa, dựng cột đá ở giữa hồ, làm toà sen của Phật Quan Âm như đã thấy trong mộng, để cầu trường thọ cho vua và phúc lành cho trăm họ. Năm sau, chùa Diên Hựu được dựng.
Đến năm một nghìn một trăm lẻ năm, vua Lý Nhân Tông cho mở rộng thành một quần thể lớn hơn nhiều. Nghiên cứu lịch sử cho thấy bản thời Lý Trần có quy mô rộng hơn bản hiện nay rất nhiều, có thể là cả một quần thể tháp. Qua các thời Trần, Lê, Nguyễn chùa được trùng tu nhiều lần.
Và rồi đến ngày mười một tháng chín năm một nghìn chín trăm năm mươi tư.
Đó là Rằm tháng Tám âm lịch. Còn hơn một tháng nữa thì bộ đội Việt Nam sẽ tiếp quản Thủ đô theo Hiệp định Genève. Nhưng trong đêm đó, Liên Hoa Đài đã bị mìn phá huỷ từ mặt sàn trở lên. Chỉ còn lại cột đá. Ai đặt mìn, đến hôm nay vẫn còn nhiều giả thuyết khác nhau trong nghiên cứu lịch sử, chưa có kết luận chính thức. Điều chắc chắn là khi bộ đội tiếp quản Hà Nội ngày mười tháng mười năm một nghìn chín trăm năm mươi tư, Liên Hoa Đài đã không còn.
Chính phủ quyết định khôi phục. Ngày một tháng một năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm, công trình khởi công phục dựng dưới sự chỉ huy của kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng thuộc Sở Bảo tồn Cổ tích. Và chỉ sau sáu mươi hai ngày, Liên Hoa Đài đã hoàn thành. Bản phục dựng dựa theo kiến trúc thời Nguyễn, không phải nguyên gốc thời Lý, vì bản gốc thời Lý đã mất hoàn toàn.
Công trình mà cả nhà đang đứng trước hôm nay là bản phục dựng từ năm một nghìn chín trăm năm mươi lăm. Đài hình vuông, mỗi cạnh ba mét. Cột đá đường kính một phẩy hai mét, phần nổi cao bốn mét trên mặt nước. Mái cong với hình "lưỡng long chầu nguyệt", hai con rồng chầu mặt nguyệt, ở đỉnh. Bên trong đài là tượng Quan Thế Âm Bồ Tát mạ vàng, đúng như Phật Bà trong giấc mộng của vua Lý gần một nghìn năm trước.
Lan can xung quanh hồ vuông được lát bằng gạch sành tráng men xanh, đặc trưng của kiến trúc thời Nguyễn.
Năm hai nghìn không mười hai, Tổ chức Kỷ lục châu Á xác lập kỷ lục cho Chùa Một Cột là "Ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất châu Á". Không phải vì công trình lớn nhất hay cổ nhất. Mà vì không nơi nào trên châu Á có một cấu trúc tôn giáo như thế này: một cột tròn đơn độc chống đỡ cả một đài hình vuông nổi lên giữa mặt nước. Ý tưởng xuất phát từ một giấc mộng của vua. Và đã sống qua gần một nghìn năm lịch sử, qua chiến tranh và đổ nát, để đứng đây cho tới tận hôm nay. ---