Chùa Thiên Mụ
Hơn bốn trăm hai mươi năm tuổi. Đó là tuổi của Chùa Thiên Mụ, ngôi chùa cổ nhất xứ Huế, biểu tượng tâm linh của Cố đô từ khi vùng đất này còn chưa trở thành kinh đô.
Năm một nghìn sáu trăm linh một, chúa Nguyễn Hoàng đang đi tuần du tìm đất đóng kinh đô lâu dài cho Đàng Trong, vùng đất từ Bắc miền Trung trở vào Nam mà ông cai trị, trong thế đối đầu với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Đến đồi Hà Khê bên tả ngạn sông Hương, theo truyền thuyết, ông gặp một bà lão mặc áo đỏ quần xanh đang ngồi trên đồi. Bà tiên tri: sẽ có một vị Chân chúa đến lập chùa nơi này để tụ linh khí, làm cho nước Nam hùng mạnh. Nguyễn Hoàng nghe lời, xây chùa và đặt tên Thiên Mụ, bà tiên trời.
Cả nhà có thể hỏi: câu chuyện đó thật hay không? Có người cho rằng truyền thuyết này có thể là thủ thuật chính trị của Nguyễn Hoàng. Biết đâu chính ông đã dựng nên câu chuyện linh thiêng ấy để củng cố tính chính danh và tạo niềm tin của dân, trong bối cảnh ông cần tách Đàng Trong thành một thực thể độc lập. Sự thật hay thủ thuật, mỗi người có thể tự nghĩ lấy. Nhưng kết quả thực tế là rõ ràng: chùa Thiên Mụ trở thành biểu tượng tinh thần của dòng họ chúa Nguyễn từ đó đến suốt triều Nguyễn.
Công trình nổi tiếng nhất của chùa là Tháp Phước Duyên, tháp bảy tầng hình bát giác cao hai mươi mốt mét, biểu tượng không thể nhầm của Cố đô Huế. Tháp được xây năm một nghìn tám trăm bốn mươi tư dưới triều vua Thiệu Trị nhân dịp đặc biệt: lễ mừng thượng thọ của Thuận Thiên Cao Hoàng hậu Trần Thị Đang, bà nội của vua, người vợ thứ của vua Gia Long. Tên ban đầu của tháp là Từ Nhân, sau được đổi thành Phước Duyên. Mỗi tầng có cửa và tượng Phật bên trong, ánh sáng lọt qua ô cửa hắt lên từng lớp đá trầm mặc.
Phía trước tháp từng có đình Hương Nguyện, cũng xây năm một nghìn tám trăm bốn mươi tư. Đình đó bị bão Giáp Thìn phá hủy hoàn toàn năm một nghìn chín trăm linh bốn. Nay chỉ còn nền đá làm chứng tích về sự vô thường.
Chánh điện Đại Hùng Bảo điện được xây năm một nghìn bảy trăm mười bốn dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu trong đợt đại trùng tu lớn, thờ Phật Tam Thế cùng các Bồ Tát và La Hán theo phong cách Phật giáo Bắc tông Đại thừa truyền thống Việt Nam.
Nhưng điểm mà cả nhà sẽ dừng lại lâu nhất, và nhớ nhất, là khu phía sau sân chùa.
Chiếc xe Austin Westminster màu xanh dương.
Đây là một trong những di vật hiếm hoi còn lại từ một sự kiện làm chấn động thế giới năm một nghìn chín trăm sáu mươi ba. Ngày mười một tháng sáu năm một nghìn chín trăm sáu mươi ba, chiếc xe này đưa Hòa thượng Thích Quảng Đức đến ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt ở Sài Gòn. Chủ xe là ông Trần Quang Thuận, một phật tử của chùa Thiên Mụ, đệ tử của Hòa thượng Thích Đôn Hậu, vị trụ trì chùa lúc bấy giờ.
Tại đó, Hòa thượng Thích Quảng Đức, khi ấy sáu mươi sáu tuổi, ngồi xuống trong tư thế kiết già và lặng lẽ niệm Phật. Rồi ngài tự thiêu, hy sinh thân mình để phản đối chính sách đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Thời ấy, Phật tử bị cấm treo cờ Phật giáo, và ở Huế, hồi tháng năm năm một nghìn chín trăm sáu mươi ba, một cuộc biểu tình của Phật tử đã bị đàn áp, nhiều người thiệt mạng.
Bức ảnh nhà báo Mỹ Malcolm Browne chụp hôm ấy được đưa lên báo chí khắp thế giới và làm chấn động lương tâm nhân loại. Sự kiện đó góp phần lớn đẩy chính quyền họ Ngô sụp đổ tháng mười một năm một nghìn chín trăm sáu mươi ba.
Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, ông Trần Quang Thuận lấy lại xe từ cảnh sát Sài Gòn và cúng dường cho chùa. Năm một nghìn chín trăm sáu mươi lăm, xe được chuyển từ Sài Gòn ra Huế. Từ đó đến nay, hơn sáu mươi năm, chiếc xe đứng yên trong sân chùa.
Một điều nữa nên biết: xá lợi trái tim của Hòa thượng Thích Quảng Đức không ở chùa Thiên Mụ này. Từ năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm, xá lợi được tôn trí lâu dài tại tháp Đa Bảo, Việt Nam Quốc Tự, ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Người Huế có hai câu ca dao cổ:
"Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Cương."
Tiếng chuông Thiên Mụ từ bốn trăm năm trước vẫn vang. Câu ca dao ấy người Huế vẫn thuộc. Và nơi này, từ chúa Nguyễn Hoàng đến Bồ tát Thích Quảng Đức, vẫn là trung tâm của một câu chuyện chưa hết.