Chuyen.AIPlaylist
Huế

Đàn Nam Giao

0:000:00

Phía nam kinh thành Huế, giữa bóng đêm, nhà vua bước ra khỏi Trai Cung, đi về phía đàn tế trời. Lúc ấy mới hai giờ sáng. Người mặc long cổn, đội mũ triện, hai tay cầm tấm hốt ngọc. Phía trước là một khối đàn tròn, trên đỉnh dựng chiếc lều màu xanh gọi là Thanh Ốc. Tiếng chuông, tiếng trống, tiếng khánh bắt đầu vang lên.

Đó là một đêm tế Giao ở Đàn Nam Giao, nơi các vua nhà Nguyễn tế trời đất.

Đàn được khởi công ngày hai mươi lăm tháng ba năm một nghìn tám trăm lẻ sáu, dưới triều vua Gia Long. Lễ tế đầu tiên diễn ra ngày hai mươi bảy tháng ba năm một nghìn tám trăm lẻ bảy. Ngày nay, đây là đàn tế trời duy nhất còn lại ở Việt Nam.

Đêm ấy không bắt đầu lúc hai giờ sáng. Nó bắt đầu từ rất lâu trước đó.

Nha Khâm Thiên Giám phải chọn ngày tốt. Bộ Lễ và bộ Công lo sửa soạn hàng tháng trời. Nhà vua giữ mình ba ngày, ăn chay, tịnh tâm, ban chiếu tri ân các quan và cho giảm án cho người tù.

Rồi đến buổi sáng lên đường. Tám giờ sáng, nhà vua ngồi ngự liễn rời Hoàng Thành. Đoàn Ngự đạo chia làm ba, gọi là Tiền đạo, Trung đạo và Hậu đạo. Dẫn đầu là hai con voi, theo sau là quan cưỡi ngựa cầm cờ. Có cờ ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Có cờ bốn phương mang hình Thanh long, Bạch hổ, Chu tước, Huyền vũ. Có cả chiếc tàn thêu chín con rồng.

Những năm chưa có cầu Trường Tiền, cả đoàn rước vượt sông Hương trên một chiếc cầu phao kết bằng thuyền. Qua sông, đoàn đi theo những con đường nay mang tên Phan Bội Châu và Điện Biên Phủ. Dọc đường, người dân kết cổng chào, bày hương án hai bên để đón.

Đến Nam Giao, nhà vua vào nghỉ ở Trai Cung, nằm ở góc tây nam của đàn. Đây là nơi nhà vua giữ lòng thanh tịnh suốt đêm cuối cùng trước lễ.

Sân Trai Cung còn giữ một câu chuyện xanh. Vua Minh Mạng tự tay trồng mười cây thông ở đây. Các hoàng tử trồng thông dọc con đường vua đi. Quan lại từ tứ phẩm trở lên được phép trồng thông làm kỷ niệm, mỗi cây có một tấm biển bằng đồng hoặc bằng đá ghi tên và tước vị người trồng. Rừng thông cứ thế lớn dần quanh đàn.

Vì sao một nhà vua phải đi xa, thức khuya, giữ mình đến vậy chỉ để tế trời?

Người xưa coi vua là Thiên tử, nghĩa là con Trời. Lễ tế Giao là lúc nhà vua tỏ lòng thành kính với trời đất và thần linh. Đó cũng là lúc vua tự nhắc mình phải trị nước cho tốt, để dân được yên ổn, để mưa thuận gió hòa.

Và chính hình dáng của đàn đã kể lại cách người xưa nhìn vũ trụ.

Đàn có ba tầng. Tầng dưới cùng hình vuông, lan can quét vôi đỏ, tượng trưng cho Nhân, tức là con người. Tầng giữa là Phương Đàn, cũng hình vuông, lan can quét vôi vàng, tượng trưng cho Địa, tức là đất. Trên Phương Đàn, người ta dựng một chiếc lều vàng gọi là Hoàng Ốc.

Tầng trên cùng là Viên Đàn, hình tròn, lan can quét vôi xanh, tượng trưng cho Thiên, tức là trời. Viên Đàn có đường kính bốn mươi phẩy năm mét, cao hai phẩy tám mét. Quanh mặt đàn có hai mươi tám phiến đá khoét lỗ để cắm cột dựng lều Thanh Ốc màu xanh.

Trời tròn, đất vuông. Người ở dưới, đất ở giữa, trời ở trên. Bước từng bậc từ tầng đỏ lên tầng vàng, rồi lên tầng xanh, là đi một vòng từ mặt đất lên bầu trời.

Giờ thì mình quay lại với đêm tế lúc hai giờ sáng.

Nhạc tế có chín khúc, hát trong chín chặng khác nhau của buổi lễ. Một trăm hai mươi tám vũ công múa điệu Bát Dật. Tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng tù và, tiếng nhị, tiếng sáo hòa vào nhau giữa đêm khuya. Lễ vật có trâu, dê và heo, được vỗ béo từ trước bằng thức ăn sạch. Ở góc đông nam có lò phần sài, nơi đốt con sinh dâng lên trời.

Cả buổi lễ kéo dài gần ba tiếng đồng hồ. Rồi đoàn rước lại xếp hàng trở về. Khi nhà vua về tới Đại Cung môn, đội pháo thủ bắn chín phát súng mừng. Lễ tế Giao năm ấy mới thật sự khép lại.

Thuở đầu triều Nguyễn, lễ tế Giao được tổ chức mỗi năm một lần, vào tháng hai âm lịch, khi mùa xuân đang về. Đến năm một nghìn tám trăm chín mươi, đời vua Thành Thái, triều đình định lại cứ ba năm mới tế một lần, vào các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu.

Trong một trăm ba mươi tám năm, từ năm một nghìn tám trăm lẻ bảy đến năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, đàn này đã chứng kiến chín mươi tám kỳ đại lễ tế trời, qua mười đời vua Nguyễn. Từ Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, cho đến Bảo Đại.

Lần tế cuối cùng diễn ra vào rạng sáng ngày hai mươi ba tháng ba năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, dưới triều vua Bảo Đại. Mấy tháng sau, triều Nguyễn khép lại. Tiếng nhạc tế ở Nam Giao im lặng suốt nhiều năm.

Gần sáu mươi năm sau, vào năm hai nghìn không trăm lẻ tư, lễ tế Giao lần đầu được phục dựng trong Festival Huế. Những mùa lễ hội sau đó, đoàn rước lại đi ra từ Ngọ Môn, voi, ngựa, cờ, lọng nối nhau về phía nam.

Ngày mười một tháng mười hai năm một nghìn chín trăm chín mươi ba, Đàn Nam Giao được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, như một phần của Quần thể di tích Cố đô Huế. Khuôn viên của đàn trải dài ba trăm chín mươi mét, bao quanh là rừng thông cổ thụ.

Nếu một ngày được đứng dưới chân Viên Đàn, cả nhà hãy thử ngước lên. Phía trên không còn lều xanh, không còn nhạc tế. Chỉ có khoảng trời tròn đúng như người xưa hình dung.

Và quanh đó, gió vẫn đi qua rừng thông, nơi một ông vua, các hoàng tử, các vị quan năm nào từng tự tay trồng cây. Tán thông xào xạc khe khẽ, như tiếng vọng rất xa của chín khúc nhạc tế thuở trước.

Câu chuyện gần đây