Chuyen.AIPlaylist
Phú Thọ

Hồ thủy điện Hòa Bình

0:000:00

Ngày sáu tháng mười một năm một nghìn chín trăm bảy mươi chín, trên dòng sông Đà ở vùng Hòa Bình, người ta bắt đầu đắp một con đập. Không phải một con đập nhỏ. Đây là công trình lớn nhất Đông Nam Á thời điểm đó, được xây dựng với sự tham gia của hơn bốn vạn cán bộ công nhân Việt Nam và hơn hai nghìn năm trăm lượt chuyên gia từ Liên Xô.

Mười lăm năm sau, ngày hai mươi tháng mười hai năm một nghìn chín trăm chín mươi bốn, Nhà máy Thủy điện Hòa Bình khánh thành. Và cùng lúc đó, một vùng hồ rộng lớn hình thành trên mặt sông Đà. Đó là hồ thủy điện Hòa Bình mà hôm nay cả nhà mình đang đứng trước.

Hình dung thế này để cảm nhận được quy mô. Hồ chứa có mực nước dâng bình thường một trăm mười bảy mét. Diện tích mặt hồ hai trăm linh tám kilômét vuông. Dung tích toàn bộ chín phẩy bốn mươi lăm tỉ mét khối nước. Nhà máy có tám tổ máy, mỗi tổ công suất hai trăm bốn mươi megawatt, tổng cộng một nghìn chín trăm hai mươi megawatt, cùng với mười hai cửa xả. Những con số ấy do Công ty Thủy điện Hòa Bình công bố chính thức.

Nhưng điều cả nhà nên biết không chỉ là con số. Nhà máy Thủy điện Hòa Bình có bốn nhiệm vụ chính: chống lũ bảo đảm an toàn cho hạ du, phát điện cho hệ thống điện quốc gia, tưới tiêu chống hạn cho nông nghiệp, và bảo đảm giao thông thủy. Bốn nhiệm vụ ấy giải thích vì sao công trình này quan trọng không chỉ với vùng Hòa Bình, mà với cả miền Bắc.

Khi đập hoàn thành và nước dâng lên, những thung lũng và vùng đất thấp ven sông Đà ngập dưới nước. Hàng ngàn hộ dân phải di dời. Đây là một chương không thể bỏ qua khi kể câu chuyện về hồ Hòa Bình: vẻ đẹp của lòng hồ hôm nay gắn với câu chuyện di dân và tái định cư của những năm đó.

Nhưng nước dâng cũng tạo ra điều gì đó mới. Những ngọn đồi trước đây nằm giữa thung lũng giờ trở thành các đảo nhỏ trên mặt hồ. Khu vực Thung Nai là một ví dụ điển hình: sau khi thủy điện hoàn thành, nước sông Đà dâng ngập các thung lũng lên lưng chừng núi, tạo nên cảnh quan hồ với vô số đảo nhỏ. Người ta hay ví von như "vịnh Hạ Long trên núi" để diễn tả vẻ đẹp ấy.

Trên mặt hồ, tàu có thể ghé Đền Chúa Thác Bờ, nơi người dân địa phương gìn giữ tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ. Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt đã được UNESCO ghi danh di sản văn hóa phi vật thể. Đây là tín ngưỡng sống động còn hiện diện trong đời sống người dân ven hồ cho đến tận ngày nay.

Ven hồ còn có những xóm làng người Mường như xóm Ké trong vịnh Hiền Lương và xóm Mỗ với nhà sàn và ruộng bậc thang. Sinh kế của người dân nơi đây gắn với mặt nước và núi rừng xung quanh. Ngồi trên tàu nhìn khói bếp tỏa lên từ những mái nhà sàn giữa lòng hồ, cả nhà sẽ hiểu tại sao người ta nói nơi đây có một nhịp sống riêng, chậm và sâu.

Trên đồi Ông Tượng trong khuôn viên công trình thủy điện, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh cao mười tám mét đứng nhìn xuống hồ, khánh thành ngày hai mươi tháng giêng năm một nghìn chín trăm chín mươi bảy. Đứng dưới chân tượng, nhìn ra mặt hồ rộng mênh mông, cả nhà sẽ hình dung được phần nào công sức mà một thế hệ người Việt cùng chuyên gia Liên Xô đã bỏ ra trong mười lăm năm để dựng nên công trình này.

Câu chuyện của hồ thủy điện Hòa Bình không chỉ là câu chuyện kỹ thuật. Đó là câu chuyện về những cộng đồng nhường thung lũng để nước dâng, về những bàn tay dựng đập giữa núi rừng, và về một mặt hồ xanh thẳm hôm nay vẫn đang nuôi sáng đèn cho hàng triệu gia đình trên khắp miền Bắc.

Câu chuyện gần đây