Chuyen.AIPlaylist
Đà Nẵng

Hội quán Phúc Kiến

0:000:00

Một mô hình thuyền buồm nằm yên trong chính điện, dài hai mét, rộng chưa đến một mét. Nó không có sóng để đi, không có gió để căng buồm, chỉ có khói hương lững lờ quanh mạn thuyền. Ai bước vào hội quán Phúc Kiến cũng nên đứng lại trước nó một lát.

Người ta truyền nhau rằng đó là con thuyền Bà Thiên Hậu từng dùng để đi cứu người gặp nạn. Còn sự thật thì giản dị hơn, và cũng làm người ta chạnh lòng hơn. Đó là hình dáng thật của loại thuyền buồm mà thương nhân người Hoa ngày xưa dùng để vượt biển. Thuyền nhỏ so với đại dương, lênh đênh hàng tháng trời, gặp bão tố sóng dữ mà chẳng có gì để tự vệ. Người ngồi trên thuyền chỉ còn biết cầu nguyện.

Chiếc thuyền ấy nằm ở số bốn mươi sáu đường Trần Phú, giữa phố cổ Hội An, bây giờ thuộc phường Hội An của thành phố Đà Nẵng. Năm một nghìn chín trăm chín mươi chín, đô thị cổ này được UNESCO ghi vào danh sách di sản văn hóa thế giới, và hội quán Phúc Kiến là một trong những ngôi nhà chung của người Hoa nằm trong khu phố ấy.

Hội An thời các chúa Nguyễn mở cửa cho thương nhân Trung Hoa đến ở, và người Phúc Kiến là một trong những nhóm đến sớm, đến đông. Năm một nghìn sáu trăm chín mươi bảy, khi thương cảng đang hưng thịnh, thương nhân Phúc Kiến kéo đến ngày một nhiều, họ bèn mua lại một ngôi chùa cũ để dựng hội quán. Ngôi chùa ấy tên là Kim Sơn Tự. Truyền thuyết kể rằng ngày xưa chỗ này còn cây cối rậm rạp, trước mặt là dòng sông. Một pho tượng Phật trôi theo nước đến đây, người ta thấy trong tượng có vàng, bèn lấy vàng mua gỗ dựng chùa. Đó là chuyện truyền miệng, nhưng cái tên Kim Sơn Tự vẫn còn trên cổng tam quan cho đến hôm nay.

Đến năm một nghìn bảy trăm năm mươi bảy, bang Phúc Kiến tu bổ lớn và đổi tên thành Phúc Kiến Hội quán. Nơi này vừa để thờ thần, thờ người có công với bang, vừa để đồng hương gặp nhau, đỡ đần nhau trong chuyện buôn bán làm ăn.

Vậy vì sao thương nhân đi biển lại gửi cả niềm tin vào một người phụ nữ? Người Hoa kể rằng bà họ Lâm, sinh ra ở Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, cách đây hơn một nghìn năm. Thuở bà còn nhỏ, có lần biển động, thuyền của bốn người anh bị lạc giữa sóng. Bỗng một bé gái hiện ra, dẫn thuyền vào chỗ tránh gió. Cha mẹ nhìn con gái mình và hiểu rằng chính con đã cứu các anh. Sau này người đi biển gọi bà là Thiên Hậu. Họ mang theo tranh thờ bà và đèn đỏ lên thuyền, và qua nhiều đời vua, bà được ban sắc phong.

Ở chính điện, tượng bà ngồi giữa, áo choàng đỏ thêu kim tuyến. Xéo phía sau bàn thờ Phật, hai bên có hai vị thần đứng canh. Một vị là Thiên Lý Nhãn, nhìn thấy xa nghìn dặm. Một vị là Thuận Phong Nhĩ, nghe được tiếng kêu cứu bay theo gió. Cả nhà nhìn lại chiếc thuyền xem: có một vị thấy từ xa, một vị nghe từ xa, và một người mẹ ngồi giữa. Con thuyền không còn cô đơn nữa.

Để tới được chiếc thuyền, người ta phải đi một chặng dài. Hội quán sâu chừng một trăm hai mươi mét, từ đường Trần Phú chạy xuyên đến đường Phan Chu Trinh, phải qua ba lớp sân và nhiều bậc tam cấp. Ở sân ngoài có hồ nước hình hoa mai, năm con cá chép cùng ngẩng đầu phun nước lên trời, phía sau là mặt trời. Trước cổng tam quan có đôi sư tử chầu nhau, còn mái cổng lợp ngói men xanh. Cổng ngoài, hồ nước và tam quan được làm lại trong đợt trùng tu lớn nhất, từ năm một nghìn chín trăm bảy mươi đến một nghìn chín trăm bảy mươi tư. Một ngôi nhà còn người thờ cúng thì lúc nào cũng có người quét dọn, sửa sang, và con cháu ở xa, kể cả ở nước ngoài, vẫn gửi tin về góp sức tu bổ.

Sau chính điện còn một hồ nước nuôi cá cảnh, phía trên uốn một con rồng khổng lồ, vảy ghép bằng những mảnh bát sứ và thủy tinh, lấp lánh như vừa lội qua nước. Rồi đến hậu điện. Ở đó có sáu vị thần mà người Phúc Kiến coi là những vị bảo hộ riêng cho mình, tương truyền là sáu vị tướng trung thành với nhà Minh. Bên cạnh là ba bà chúa sinh thai và mười hai bà mụ, nơi những gia đình mong con đến khấn nguyện. Tất cả đều là tượng gỗ sơn son thếp vàng.

Hội quán này không phải một bảo tàng. Mỗi năm, vào ngày mười sáu tháng hai âm lịch, bà con từ nhiều nơi lại tìm về dự lễ vía sáu vị. Chiều hôm trước, hội quán giăng đèn kết hoa. Sáng hôm sau, ba hồi chuông trống vang lên, vị chủ tế đọc chúc văn, thường bằng tiếng Mân quê hương. Đến tháng ba là lễ vía Bà, vào ngày hai mươi ba. Chiều ngày hai mươi hai, người ta lau tượng bằng khăn sạch và thay áo choàng cho Bà.

Hương vẫn cháy. Chiếc thuyền vẫn nằm trong chính điện, trong tầm mắt của Thiên Lý Nhãn, trong tầm tai của Thuận Phong Nhĩ, như một con thuyền đã cập bến từ lâu mà vẫn được trông chừng như còn ngoài khơi.

Câu chuyện gần đây