Phố cổ Hội An
Vào thế kỷ mười bảy, trên khắp châu Á chưa có nhiều đô thị thương mại quốc tế. Vậy mà ở một dải ven sông nhỏ tại miền Trung Việt Nam, thương nhân Nhật Bản, người Hoa từ Phúc Kiến và Quảng Đông, thương nhân Bồ Đào Nha, Hà Lan cùng sống chung trong một khu phố, cùng xây hội quán, cùng mở tiệm buôn, cùng dựng chùa và đền. Nơi đó chính là Hội An, thương cảng quốc tế lớn nhất Đại Việt thời bấy giờ.
Ngày bốn tháng mười hai năm một nghìn chín trăm chín mươi chín, tại kỳ họp ở Marrakech, Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO chính thức ghi danh Đô thị cổ Hội An vào Danh sách Di sản Văn hóa Thế giới.
UNESCO công nhận Hội An theo hai tiêu chí. Tiêu chí thứ nhất là giao thoa văn hóa nổi bật, Hội An là minh chứng vật thể cho sự kết hợp nhiều nền văn hóa trong một thương cảng quốc tế. Tiêu chí thứ hai là điển hình bảo tồn hoàn hảo của một cảng thị châu Á truyền thống. Hai tiêu chí đó nói về hai điều: sự phong phú văn hóa và sự toàn vẹn không gian.
Tại sao Hội An còn nguyên đến vậy? Đây là một sự trùng hợp kỳ lạ của lịch sử. Từ cuối thế kỷ mười chín, sông Thu Bồn bồi lấp dần, tàu lớn không cập được, cảng nước sâu chuyển về Đà Nẵng. Hội An rơi vào giai đoạn yên lặng, hàng chục năm ít đầu tư, ít xây dựng mới. Chính nhờ sự tĩnh lặng đó, các kết cấu gỗ từ thế kỷ mười bảy đến thế kỷ mười chín còn được giữ nguyên. Nghịch lý là: sự suy tàn đã bảo tồn Hội An.
Thành phố Hội An xưa gọi là Faifo, tên xuất hiện trong từ điển Việt, Bồ, La mà giáo sĩ Alexandre de Rhodes biên soạn năm một nghìn sáu trăm năm mươi mốt. Ông giải thích đây là tên một làng ở Đàng Trong nơi người Nhật sinh sống.
Khu phố cổ hôm nay rộng khoảng hai cây số vuông, dọc bờ bắc sông Hoài, một nhánh của sông Thu Bồn. Trong đó có hơn một nghìn ngôi nhà cổ, ba mươi tám nhà thờ tộc, mười chín đình chùa, và năm hội quán của người Hoa từ các bang khác nhau: Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông, Hải Nam, và hội quán Ngũ Bang chung cho tất cả.
Khi bước vào phố Trần Phú, trục thương mại chính của thương cảng xưa, cả nhà đang đi trên con đường từng có cửa hàng của thương nhân Nhật Bản và người Hoa hai bên. Khoảng năm một nghìn sáu trăm mười bảy, đã có một khu phố Nhật chính thức tại đây. Nhưng năm một nghìn sáu trăm ba mươi lăm, chính phủ Tokugawa Nhật Bản ban hành sắc lệnh Sakoku, đóng cửa đất nước, cấm người Nhật ra nước ngoài. Cộng đồng Nhật ở Hội An dần rời đi hoặc đồng hóa với người địa phương. Và đó là lý do tại sao hôm nay, trong toàn bộ phố cổ Hội An, chỉ còn một công trình kiến trúc Nhật Bản duy nhất còn lại, đó là Chùa Cầu.
Chùa Cầu là nơi cả nhà sắp đến. Đây là cây cầu gỗ có mái che dài mười tám mét, rộng ba mét, bắc qua một nhánh nhỏ của sông Hoài. Công trình này có ba cái tên: Cầu Nhật Bản, vì do người Nhật xây từ khoảng năm một nghìn năm trăm chín mươi ba; Chùa Cầu, vì giữa cầu có một ngôi chùa nhỏ; và Lai Viễn Kiều, tên chữ Hán do chúa Nguyễn Phúc Chu đặt năm một nghìn bảy trăm mười chín khi ông tuần du Đàng Trong, nghĩa là "cầu đón khách phương xa".
Theo truyền thuyết dân gian Nhật Bản, người Nhật xây cầu này để trấn yểm con thủy quái Namazu, một sinh vật khổng lồ sống dưới lòng đất với đầu ở Ấn Độ, thân ở Việt Nam, đuôi ở Nhật Bản. Mỗi khi nó cựa mình, cả ba nơi đều có thiên tai. Đây là truyền thuyết dân gian, không có sử liệu chính thống, nhưng nó phản ánh mối liên kết tâm linh sâu sắc giữa cộng đồng Nhật và vùng đất này.
Nhìn hai đầu cầu: phía tây là hai con khỉ đá, phía đông là hai con chó đá. Theo cách giải thích dân gian, cầu khởi công năm Thân, năm con khỉ, và hoàn thành năm Tuất, năm con chó. Bốn con linh thú này được thờ có đôi có cặp, cầu mong thuận lợi cho người dân Hội An.
Chùa Cầu được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia tháng hai năm một nghìn chín trăm chín mươi. Năm hai nghìn lẻ sáu, hình ảnh cầu được in trên mặt sau tờ tiền polymer hai mươi nghìn đồng, cả nhà có thể lấy ra kiểm tra ngay bây giờ. Từ cuối năm hai nghìn hai mươi hai đến tháng bảy năm hai nghìn hai mươi bốn, Chùa Cầu trải qua đại trùng tu với vốn đầu tư hơn hai mươi tỷ đồng, khánh thành ngày ba tháng tám năm hai nghìn hai mươi bốn. Sau khi khánh thành có một số ý kiến cho rằng màu sơn quá mới, mất đi nét cổ kính. Chính quyền Hội An giải thích vật liệu sẽ già hóa theo thời gian, đây là lần thứ sáu trong lịch sử cầu được đại trùng tu, sau các lần năm một nghìn tám trăm mười bảy, năm một nghìn tám trăm sáu mươi lăm, năm một nghìn chín trăm mười lăm và năm một nghìn chín trăm tám mươi sáu.
Trong lòng cây cầu nhỏ có ngôi chùa thờ Bắc Đế Trấn Vũ, vị thần Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian trấn áp thiên tai và lũ lụt. Đây không phải chùa Phật giáo, không có tượng Phật chính. Đây là không gian thờ theo tín ngưỡng dân gian, hội tụ ba nền văn hóa: người Nhật xây cầu, người Hoa xây thêm chùa, chính quyền Đại Việt đặt tên và quản lý.
Ngoài Chùa Cầu, Hội An còn nổi tiếng với đêm Rằm Phố Cổ. Chương trình này bắt đầu từ năm một nghìn chín trăm chín mươi tám, một năm trước khi UNESCO công nhận. Mỗi tháng vào đêm mười bốn âm lịch, toàn khu phố cổ tắt đèn điện và thắp đèn lồng truyền thống. Du khách thả hoa đăng trên sông Hoài, ánh đèn vàng rực soi mình xuống dòng nước đêm khuya.
Năm hai nghìn mười bảy, UNESCO còn ghi danh Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Hội An là một trong những địa điểm duy trì và biểu diễn Bài Chòi thường xuyên cho du khách, thường tổ chức tại sân khấu nhỏ ven sông Hoài.
Khu phố cổ Hội An là một đô thị còn sống, không phải bảo tàng ngoài trời. Người dân vẫn sống, buôn bán, thờ cúng trong những ngôi nhà gỗ ba trăm năm tuổi đó. Mỗi viên ngói, mỗi cột gỗ chứa đựng câu chuyện của những thương nhân đã đến và đi qua nơi này từ nửa thiên niên kỷ trước.
Cảm ơn cả nhà đã nghe câu chuyện về Phố cổ Hội An.