Chùa Cầu , Hội An
Mặt sau tờ tiền hai mươi nghìn đồng có in hình một cây cầu nhỏ, mái ngói phủ kín thân cầu. Đó là Chùa Cầu ở phố cổ Hội An, và cây cầu bé nhỏ ấy giữ trong mình ba điều lạ. Ngôi chùa ở đây không thờ Phật. Nó cũng chẳng đứng trên mặt đất như bao ngôi chùa khác, mà nằm ngay trên lưng một cây cầu gỗ. Còn cây cầu ấy, người dân Hội An lại quen gọi là Cầu Nhật Bản.
Một ngôi chùa không có tượng Phật, trên một cây cầu mang tên nước Nhật, giữa phố cổ của người Việt. Vậy mà điều nào cũng đúng. Và để hiểu vì sao, phải lần ngược về bốn trăm năm trước.
Cây cầu nhỏ thôi. Nó dài khoảng mười tám mét, rộng chừng ba mét, bắc ngang qua một con lạch nhỏ trong lòng phố cổ, mặt chính nhìn ra sông Hoài. Đi thong thả một lát là đã sang bờ bên kia. Cả thân cầu được che kín bằng mái ngói âm dương. Chùa và cầu đều làm bằng gỗ, sơn son, chạm trổ nhiều họa tiết. Hai bên lòng cầu là hành lang hẹp, xưa kia làm chỗ nghỉ mát cho người qua lại.
Hội An vào thế kỷ mười bảy là một thương cảng nhộn nhịp, thuyền buôn từ nhiều xứ ghé vào. Thương nhân Nhật Bản lập một khu phố riêng, người Hoa cũng có khu phố của mình. Cây cầu nối hai khu phố ấy lại với nhau, cho người qua kẻ lại, hàng hóa đi về thuận tiện. Người ta vẫn tính tuổi cây cầu từ khoảng năm một nghìn năm trăm chín mươi ba, khi những thương nhân người Nhật dựng nó lên. Đó là niên đại truyền thống được kể lại qua nhiều đời, chứ chưa ai tìm được trang giấy nào ghi chính xác ngày khởi công.
Rồi một biến cố xảy ra ở tận bên kia biển. Năm một nghìn sáu trăm ba mươi lăm, nước Nhật ban hành sắc lệnh Sakoku, khép cửa đất nước lại. Cộng đồng người Nhật ở Hội An cứ thế thưa dần, rồi lần lượt rời đi. Khu phố Nhật năm nào lụi tàn. Chỉ còn cây cầu ở lại. Đến hôm nay, giữa cả một phố cổ dày đặc nhà xưa, Chùa Cầu là công trình duy nhất còn lại được coi là có gốc tích Nhật Bản.
Vậy còn ngôi chùa thì sao? Năm một nghìn sáu trăm năm mươi ba, người ta dựng thêm một ngôi chùa nhỏ, gắn liền vào lan can phía bắc, nhô ra ngay giữa cầu. Từ đó, người dân gọi cả cây cầu là Chùa Cầu. Nhưng bước vào trong, sẽ không thấy pho tượng Phật nào. Nơi đây thờ Bắc Đế Trấn Vũ, vị thần bảo hộ xứ sở, theo tín ngưỡng dân gian và Đạo giáo. Người Hội An quen miệng gọi là chùa, và cái tên ấy cứ thế theo cây cầu suốt mấy trăm năm.
Còn vì sao cây cầu lại được dựng ở đúng chỗ này? Ở đây, câu chuyện bước sang miền truyền thuyết. Có một chuyện xưa kể rằng dưới lòng đất có một con thủy quái khổng lồ, người Nhật gọi là Namazu. Đầu nó ở tận Ấn Độ, đuôi nó ở tận Nhật Bản, còn lưng nó nằm vắt qua đúng chỗ Hội An. Mỗi lần con vật trở mình, đất rung lên, nước dâng lên. Ở Hội An, người ta còn gọi nó là con Cù. Truyền thuyết nói rằng cây cầu được dựng đúng trên lưng con vật, như một chiếc chốt giữ cho nó nằm yên. Đó chỉ là chuyện dân gian. Nhưng nghe xong, đứng trên cầu nhìn xuống mặt nước, ai cũng thấy lòng cầu như vững thêm một chút.
Ra hai đầu cầu, có hai cặp lính gác rất đặc biệt. Đầu phía tây là hai con khỉ, người dân gọi là Thần Hầu. Đầu phía đông là hai con chó, gọi là Linh Cẩu. Các bạn nhỏ đi qua nhớ nhìn cho kỹ nhé. Mấy bức tượng ấy trông như tạc bằng đá, nhưng thật ra là gỗ chạm khắc, sơn màu xám. Vì sao lại là khỉ và chó? Cách giải thích dân gian quen thuộc nhất là cây cầu khởi công vào năm Thân, năm con khỉ, và hoàn thành vào năm Tuất, năm con chó. Thế là hai con giáp ấy được đặt ra canh hai đầu cầu, có đôi có cặp.
Cây cầu còn chờ thêm một cái tên nữa. Năm một nghìn bảy trăm mười chín, chúa Nguyễn Phúc Chu đến thăm Hội An và đặt cho cầu tên chữ là Lai Viễn Kiều, nghĩa là cầu đón khách phương xa. Một tấm biển lớn chạm nổi ba chữ Hán ấy được treo ngay trên lối vào chính, đến giờ vẫn còn đó. Một cây cầu nhỏ, mà mang tới ba cái tên. Cầu Nhật Bản, vì người dựng nó. Chùa Cầu, vì ngôi chùa trên lưng nó. Lai Viễn Kiều, vì những vị khách nó đã đón. Kiến trúc của nó cũng hài hòa cả phong cách Việt, Hoa và Nhật trong một không gian bé nhỏ.
Gỗ thì không đứng mãi với mưa nắng và lũ lụt. Từ năm một nghìn bảy trăm sáu mươi ba đến năm một nghìn chín trăm chín mươi sáu, cây cầu đã được tu bổ ít nhất bảy lần. Lần đại trùng tu gần nhất bắt đầu cuối năm hai nghìn hai mươi hai, kéo dài hơn mười chín tháng, với số vốn hơn hai mươi tỷ đồng. Cây cầu được khánh thành ngày ba tháng tám năm hai nghìn hai mươi bốn. Gần sáu phần mười khối gỗ cũ và phần lớn những chiếc đĩa cổ trang trí được giữ lại, đặt về chỗ cũ. Các cấu kiện gỗ giữ nguyên màu đã có, không sơn lại cho mới.
Tháng hai năm một nghìn chín trăm chín mươi, Chùa Cầu được xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hóa Quốc gia. Từ năm hai nghìn lẻ sáu, hình cây cầu ấy đã theo tờ hai mươi nghìn đồng đi khắp mọi miền. Có lẽ rất nhiều người Việt đã mang Chùa Cầu trong ví mà không để ý.
Trên mặt tờ tiền, cây cầu nhỏ trông thật bình thường. Ít ai đoán được rằng ngôi chùa trên lưng nó không thờ Phật mà thờ vị thần bảo hộ xứ sở, còn những thương nhân Nhật dựng nên nó đã rời đi từ mấy trăm năm trước. Dưới chân cầu, nước con lạch vẫn lặng lẽ trôi. Ở hai đầu, khỉ gỗ và chó gỗ vẫn đứng chầu như bao đời nay. Còn trên lối vào, ba chữ Lai Viễn Kiều vẫn ở đó, đón thêm một người khách phương xa nữa bước lên cầu.