Chuyen.AIPlaylist
Đà Nẵng

Khu du lịch cộng đồng Cơ Tu Bến Giằng

0:000:00

Ở Bến Giằng, thứ đầu tiên người ta trao cho khách là một chiếc chày giã gạo.

Chặng dừng chân đầu tiên là thôn Pà Rồng. Ở đây, những người phụ nữ Cơ Tu trao chày cho khách, chỉ cách giã gạo, rồi chỉ cách chẻ củi. Nghe thì giản dị lắm. Vậy mà ai cầm chày lên rồi mới biết, việc người trong thôn làm hằng ngày lại khó đến bất ngờ. Rồi khách ngồi xuống học đan mây.

Trong thôn có già làng Zuông Noonh. Ông đan những chiếc giỏ mây đựng bình nước, rồi gửi hợp tác xã bán cho khách phương xa. Nhờ những chiếc giỏ ấy, cuộc sống trong nhà ông khá lên.

Bến Giằng nằm trong vùng núi phía tây Đà Nẵng, ngay chỗ đường Hồ Chí Minh gặp Quốc lộ mười bốn D, con đường chạy về phía tây, tới cửa khẩu Nam Giang bên biên giới Lào. Đây là đất của người Cơ Tu, một tộc người đã sống lâu đời giữa dãy Trường Sơn, có tiếng nói, kiến trúc, lễ hội và âm nhạc của riêng mình. Xã Bến Giằng ra đời từ ngày một tháng bảy năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm, gộp ba xã cũ là Cà Dy, Tà Bhing và Tà Pơơ, ở vùng Nam Giang của tỉnh Quảng Nam cũ, nay thuộc thành phố Đà Nẵng.

Khu du lịch cộng đồng ở đây không gói trong một khoảng sân. Nó trải ra khắp bảy thôn của xã Tà Bhing cũ, và thôn nào cũng góp một sở trường. Có nhóm lo đời sống, nhóm lo ẩm thực, nhóm dệt thổ cẩm, nhóm múa. Mỗi nhóm có trưởng nhóm và những người hướng dẫn riêng. Hợp tác xã du lịch cộng đồng Cơ Tu là đầu mối duy nhất nhận khách, rồi chia khách lần lượt về các thôn, và chia thu nhập sao cho công bằng.

Điều lạ nhất nằm ở chỗ khác. Chỉ những ngày có đoàn đặt trước, người trong thôn mới ở nhà đón khách. Những ngày còn lại, họ vẫn ra đồng, vẫn đi rừng. Mỗi tháng chỉ đón ít đoàn, vì người làng muốn làm du lịch mà không đảo lộn cuộc sống của mình. Khách phần lớn là người nước ngoài, nhiều đoàn từ Nhật Bản.

Từ Pà Rồng, khách sang thôn Zơ Ra, nơi tiếng khung dệt thay cho tiếng chày. Khung dệt của người Cơ Tu đơn giản đến bất ngờ, chỉ là mấy thanh gỗ, tre, nứa ghép lại. Khách được nghe về mười hai bước dệt riêng của người Cơ Tu, ngắm những hoa văn hình học, rồi tự tay thử dệt.

Đẹp nhất là lúc người thợ tra cườm. Chị cắt sợi ngang, rồi đặt từng hạt cườm vào đúng chỗ theo hoa văn. Hoa văn càng nhỏ, càng cần nhẫn nại. Cả hành trình của một tấm vải đều làm bằng tay: trồng bông, trồng gai, trồng đay, xe sợi, nhuộm, dệt, tạo hoa văn, tra cườm, thêu, rồi may thành áo, khố, váy quấn, khăn choàng. Màu chàm nhuộm tay làm nên nét riêng cho tấm vải.

Có một thời, nghề ấy suýt lặng đi. Năm hai nghìn không trăm mười hai, khi một tổ chức phi chính phủ của Nhật Bản đến Tà Bhing để giúp khôi phục nghề dệt thổ cẩm, người theo nghề đã thưa dần. Con đường du lịch cộng đồng ở đây bắt đầu từ chính những khung dệt ấy. Hôm nay thì khác. Ở làng dệt này, phụ nữ Cơ Tu biết dệt từ khi còn bé, và nghề dệt thổ cẩm của người Cơ Tu đã có tên trong danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Đến bữa, người thôn Pà La lo phần ăn, và mâm cơm được dọn ngay trong gươl. Có cơm lam nấu trong ống tre, có thịt nướng với lá rừng, có bánh sừng trâu nặn cong cong như chiếc sừng. Bữa cơm ấy, cả nhà ngồi ăn ngay giữa trái tim của làng.

Gươl, trong tiếng Cơ Tu, nghĩa là cộng đồng. Đó là ngôi nhà chung, nơi già làng họp bàn việc làng, nơi mở lễ hội. Gươl nào cũng chỉ có một cây cột chính, gọi là cột bố, được xem là linh hồn của ngôi nhà. Mái lợp lá, sàn bằng gỗ và tre. Trên xà, trên cột là những hình chạm khắc con vật của đời sống nương rẫy, không thể thiếu con gà trống, con trâu. Ở mỗi đầu hồi có tượng gà trống, tượng trưng cho sự tỉnh thức và cho một ngày mới.

Trong gươl, không ai được cãi vã. Đây là nơi người già dạy người trẻ phong tục và luật tục, nên người ta ví gươl như một bảo tàng sống. Gươl được dựng bằng công sức của cả làng. Người Cơ Tu coi một làng không có gươl là làng đã mất gốc. Xưa kia, khi người Cơ Tu ở vùng này lập một làng mới, chỗ của gươl được chọn ngay giữa làng, quanh đó là nhà các tộc họ, còn nhà dân dựng sau cùng. Đêm đầu tiên, cả làng cùng hát lý, đánh trống, đánh chiêng, múa hát mừng làng mới.

Rồi trống chiêng nổi lên trước sân gươl. Người thôn Pà Xua múa tâng tung da dá cho khách xem. Tung tung là phần của đàn ông, tái hiện cảnh săn bắt và mừng chiến thắng. Da dá là phần của phụ nữ, bắt nguồn từ những động tác dâng lễ lên thần linh thuở xưa, hai cánh tay nâng lên như đôi cánh chim. Năm hai nghìn không trăm mười bốn, điệu múa này được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Người Cơ Tu múa nó trong lễ mừng lúa mới, lễ tạ ơn rừng, lễ cúng thần núi thần rừng, và lễ mừng gươl mới. Có những buổi, khách còn được nghe cồng chiêng, nghe hát lý, nói lý.

Người dẫn khách đi suốt một ngày như thế là chính người Cơ Tu. Ngoài tiếng mẹ đẻ, họ nói thạo tiếng Việt và giao tiếp tiếng Anh rất giỏi. Họ là người kể, là người dẫn khách đi trên chính đất làng mình. Hợp tác xã do ông Briu Thương đứng đầu đã được trao giải du lịch cộng đồng ASEAN năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm. Với các bạn nhỏ, một ngày ở đây là một ngày được sống thử cách sống của người Cơ Tu: cầm chày giã gạo, ngồi bên khung dệt, ăn cơm lam trong gươl.

Chiều xuống, đoàn khách ra về theo con đường lớn. Sáng hôm sau, nếu không có đoàn nào đặt trước, Pà Rồng, Zơ Ra, Pà La, Pà Xua lại trở về với ruộng rẫy và rừng của mình. Còn trên đầu hồi gươl, con gà trống vẫn đứng đó, chờ một ngày mới.

Câu chuyện gần đây