Chuyen.AIPlaylist
Huế

Lăng Gia Long

0:000:00

Quẻ hiện ra là quẻ Dự. Thượng thư bộ Lễ Nguyễn Hữu Thận xem quẻ, rồi nói gọn: Tốt lắm. Người vừa bói quẻ ấy là hoàng tử thứ tư, người sau này lên ngôi là vua Minh Mạng. Và quẻ được bói cho một ngọn đồi mà vua cha đã chọn, sau bảy lần bói đất.

Ngọn đồi ấy là Thọ Sơn, một quả đồi bằng phẳng nằm giữa trùng điệp núi non ở đầu nguồn sông Hương, phía tây nam kinh thành Huế. Năm một nghìn tám trăm mười bốn, vua Gia Long đích thân lên tận nơi để xem tận mắt. Ông đứng giữa vòng núi chầu về, và nhận ra đây là đất vượng khí chung đúc, nơi sinh khí của núi sông tụ lại. Nhưng nhà vua vẫn chưa yên lòng, nên mới sai con bói thêm một lần nữa. Quẻ tốt, quân và dân được điều đến, và công việc dựng lăng bắt đầu.

Vì sao một vị vua lại cẩn thận đến thế? Bởi chỗ đất này trước hết không dành cho ông. Vào tháng hai năm ấy, người vợ đã đi cùng ông qua những năm gian khổ nhất vừa qua đời. Bà là Thừa Thiên Cao Hoàng hậu, tên thật Tống Thị Lan. Ngày mười một tháng năm, năm một nghìn tám trăm mười bốn, vua cho khởi công Thiên Thọ Lăng để an táng bà.

Muốn hiểu vì sao nhà vua thương bà đến vậy, câu chuyện phải lùi lại gần bốn mươi năm. Nguyễn Phúc Ánh sinh năm một nghìn bảy trăm sáu mươi hai. Năm một nghìn bảy trăm bảy mươi bảy, khi mới mười lăm tuổi, gia đình ông gặp nạn trong cuộc chiến với quân Tây Sơn, và cậu thiếu niên phải trốn chạy. Từ đó bắt đầu hai mươi lăm năm chinh chiến. Giáo sĩ người Pháp Bá Đa Lộc giúp ông tổ chức quân đội.

Tống Thị Lan là con gái Quý quốc công Tống Phúc Khuông. Năm một nghìn bảy trăm bảy mươi tám, bà theo cha vào Gia Định. Năm bà mười tám tuổi, chính Nguyễn Phúc Ánh tự mình đến hỏi cưới. Từ đó, suốt hơn hai mươi năm, bà theo chồng qua bao vất vả. Có lúc gian nan, bà cùng mẹ chồng phải lánh ra đảo Phú Quốc. Bà sinh hoàng tử Cảnh, con trai cả của ông, nhưng hai người con trai của bà đều mất sớm.

Có một chuyện nhỏ mà rất đẹp. Năm một nghìn bảy trăm chín mươi ba, bà nhận nuôi hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm, chính là cậu bé sau này trở thành vua Minh Mạng. Người con nuôi ấy, nhiều năm sau, sẽ bói lại quẻ cho đất lăng của bà, và hoàn thành ngôi lăng này.

Năm một nghìn tám trăm linh hai, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi ở Phú Xuân, lấy niên hiệu Gia Long, mở đầu triều Nguyễn. Ông là người thống nhất đất nước, sau một thời gian dài chia cắt bắt đầu từ khi họ Trịnh và họ Nguyễn chia nhau hai miền. Năm một nghìn tám trăm linh bốn, quốc hiệu Việt Nam được đặt chính thức, cái tên còn dùng đến hôm nay. Năm một nghìn tám trăm linh sáu, bà Tống Thị Lan được phong hoàng hậu, người duy nhất được vua lập ngôi hậu.

Khi bà mất, vua để tang bà một năm theo lễ. Ông muốn hai người được chung một lăng, nên đích thân chọn chỗ yên nghỉ cho bà, rồi chọn luôn chỗ cho chính mình ngay bên cạnh. Suốt sáu năm, ông theo dõi việc thiết kế và thi công. Tháng ba âm lịch năm một nghìn tám trăm mười lăm, hoàng hậu được an táng trên đồi. Cũng năm ấy, vua đặt cho ngọn núi cái tên mới là Thiên Thụ Sơn, cũng đọc là Thiên Thọ, mà chữ Thọ nghĩa là sống lâu.

Ngày ba tháng hai năm một nghìn tám trăm hai mươi, vua Gia Long băng hà, hưởng thọ năm mươi tám tuổi. Vua Minh Mạng hoàn thành lăng, và đưa vua cha về yên nghỉ bên cạnh người mẹ nuôi, đúng chỗ mà người cha đã chọn sẵn.

Thiên Thọ Lăng nằm cách trung tâm Huế khoảng mười sáu cây số, men theo sông Tả Trạch ngược về thượng nguồn sông Hương. Ngày xưa, muốn đến lăng chỉ có thể đi bằng đường thủy. Trên lối vào, cả nhà sẽ đi qua một rừng thông, và rừng thông ấy là ranh giới tự nhiên của lăng.

Rồi núi hiện ra, núi ở khắp bốn phía. Bốn mươi hai ngọn núi lớn nhỏ quây quần quanh lăng, ngọn nào cũng có tên riêng, khắc vào bia đá đặt trên đỉnh. Ngọn lớn nhất là Đại Thiên Thọ, đứng phía trước làm tiền án, như một tấm bình phong. Hai bên, mỗi bên mười bốn ngọn núi xếp hàng chầu về, theo thế tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ.

Đi qua sân chầu, hai bên là hàng tượng đá các vị quan, voi chiến và ngựa, đứng lặng. Rồi bảy cấp sân tế dẫn lên đỉnh đồi, nơi Bửu Thành, một vòng tường thành, ôm lấy khu mộ. Cánh cửa bằng đồng của Bửu Thành mỗi năm chỉ mở vài lần.

Bên trong là hai ngôi mộ đá đặt song song, cùng kích thước, cùng kiểu dáng, không chạm trổ hoa văn, đã sẫm màu theo năm tháng. Đây là lăng đầu tiên của triều Nguyễn, cũng là lăng duy nhất có vua và hoàng hậu yên nghỉ song táng bên nhau. Người xưa gọi cách đặt ấy là Càn Khôn hiệp đức, trời và đất cùng hòa hợp một lòng.

Bên trái khu mộ là Bi Đình, nơi đặt tấm bia Thánh Đức Thần Công. Bài văn trên bia do vua Minh Mạng viết, ca ngợi công đức vua cha. Bên phải là điện Minh Thành, nơi thờ vua và hoàng hậu. Tên điện có nghĩa là sự hoàn thiện rực rỡ, vậy mà kiến trúc lại giản dị, không dát vàng, chỉ có bốn con rồng đá chầu bên các lối bậc thềm.

So với lăng các vua đời sau, lăng Gia Long ít lầu điện, đình tạ, bởi triều Nguyễn khi ấy mới dựng nghiệp, còn nhiều khó khăn. Quanh lăng xưa kia có tám mươi lăm trụ biểu, giờ chỉ còn lại hai. Năm một nghìn chín trăm mười tám, học giả Phạm Quỳnh đến thăm, viết rằng so với các lăng kia, lăng này giản dị hơn cả, nhưng có một vẻ gì hùng tráng.

Hơn hai trăm năm đã trôi qua kể từ ngày nhà vua đứng trên ngọn đồi ấy, sau bảy lần bói đất, để chọn hai chỗ nằm cạnh nhau. Giờ đây, sau cánh cửa đồng khép kín, hai ngôi mộ đá vẫn nằm song song trong yên lặng, và bốn mươi hai ngọn núi vẫn quây quần chầu về một chỗ, như từ ngày đầu tiên.

Câu chuyện gần đây