Chuyen.AIPlaylist
Sơn La

Cao nguyên Mộc Châu

0:000:00

Sương mù giăng kín vùng cao nguyên mát lạnh này từ sáng sớm, và đã như thế từ rất lâu rồi. Người ta kể rằng thuở xa xưa, người Thái đặt chân lên vùng cao này và thấy nó chìm trong mây. Họ gọi nơi ấy là Mường Mok, nghĩa là vùng đất sương mù và lạnh giá. Nhà học giả Nguyễn Trãi đã ghi cái tên ấy vào Dư địa chí từ thế kỷ mười lăm. Các cụ vẫn bảo rằng trước đó, cái tên đã được truyền miệng qua nhiều thế kỷ. Ngày nay, cái vùng đất ấy đã có một tên khác quen thuộc hơn với người Việt mình. Đó là Mộc Châu.

Cái lạnh mà người Thái xưa gửi vào tên đất ấy có lý do của nó. Từ Yên Châu xuống tới Suối Rút, cao nguyên kéo dài gần tám mươi cây số, ở độ cao trung bình hơn một nghìn mét. Lên cao như thế, không khí dịu hẳn đi. Nhiệt độ trung bình năm ở đây chỉ khoảng mười tám đến hai mươi độ. Khi miền xuôi đang nắng gắt, người Mộc Châu vẫn khoác trên vai một chiếc áo nhẹ.

Vùng đất của sương và lạnh ấy, ngày nay, được gọi bằng những danh hiệu mới. Ngày hai mươi hai tháng tư năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký quyết định công nhận nơi đây là Khu du lịch quốc gia. Khu du lịch ấy rộng hơn hai trăm lẻ sáu nghìn héc ta, trải trên hai vùng Mộc Châu và Vân Hồ của tỉnh Sơn La. Rồi từ năm hai nghìn không trăm hai mươi hai đến năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm, giải thưởng World Travel Awards bốn năm liền trao cho Mộc Châu danh hiệu Điểm đến thiên nhiên hàng đầu khu vực châu Á.

Mùa xuân ở đây, người ta nhớ mãi là vì hoa mận. Tháng Giêng và đầu tháng Hai âm lịch, toàn bộ sườn đồi trở thành màu trắng. Không phải một rừng mà là hàng trăm, hàng nghìn cây mận đồng loạt bung nở giữa sương mù. Đó là hình ảnh mà rất nhiều khách đã đến rồi vẫn muốn quay lại chỉ để xem một lần nữa.

Nhưng Mộc Châu không chỉ đẹp mùa xuân. Mùa hè thì đồng cỏ xanh mướt, bò sữa gặm cỏ trên những thảo nguyên rộng. Cuối thu đầu đông, hoa cải vàng rực khắp nơi. Và cây chè. Hơn hai nghìn một trăm héc ta chè trải dài trên các sườn đồi, cho ra khoảng hai mươi lăm nghìn tám trăm tấn búp tươi mỗi năm. Chè Mộc Châu xuất khẩu sang tận Afghanistan, Pakistan, Đài Loan và Nhật Bản. Tất cả bắt đầu từ năm một nghìn chín trăm năm mươi tám.

Ngày tám tháng Tư năm đó, Nông trường Quốc doanh Mộc Châu được thành lập. Khoảng một nghìn bảy trăm cán bộ chiến sĩ từ Trung đoàn hai trăm tám mươi sau khi hoàn thành nghĩa vụ quốc tế tại Lào trở về, cầm cuốc lên cao nguyên khai phá đất. Ngày tám tháng Năm năm một nghìn chín trăm năm mươi chín, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên thăm nông trường. Sau một thời gian thử nghiệm, nông trường chọn cây chè làm hướng đi lâu dài, bên cạnh đàn bò sữa. Khí hậu mát và đồng cỏ rộng là điều kiện lý tưởng cho đàn bò ấy. Nhà máy làm ra dòng sữa Mộc Châu mà nhiều nhà vẫn uống hằng ngày cũng là hậu thân của nông trường năm xưa. Búp chè và dòng sữa hôm nay đều bắt đầu từ những nhát cuốc đầu tiên của người lính trên cao nguyên.

Sương sớm ở Mộc Châu còn có một chỗ đậu rất riêng, là rừng thông Bản Áng. Những hàng thông đứng quanh một hồ nước tự nhiên rộng năm héc ta. Buổi sáng sớm, khi sương còn phủ mặt hồ, tiếng thông reo và mùi nhựa cây tạo nên một không gian tĩnh lặng hiếm có.

Nhưng Mộc Châu còn một điều ít người biết hơn.

Năm một nghìn chín trăm chín mươi hai, các nhà khảo cổ từ Bảo tàng Sơn La và Viện Khảo cổ học Việt Nam khai quật một cái hang ở tiểu khu Tám của thị trấn Mộc Châu. Tên dân gian của hang là Hang Dơi. Chỉ trong một hố thăm dò rộng một mét vuông, họ tìm thấy một tầng văn hóa dày chừng nửa mét, với đồ đá và đồ gốm. Từ đó, họ kết luận rằng người Việt cổ đã sống ở đây cách nay ba nghìn đến ba nghìn năm trăm năm. Năm một nghìn chín trăm chín mươi tám, Hang Dơi được công nhận là di tích danh thắng cấp quốc gia. Diện tích trong hang là sáu nghìn chín trăm mười lăm mét vuông, chia thành ba buồng riêng biệt. Từ cửa hang có thể nhìn xuống cả vùng trung tâm Mộc Châu.

Người Thái đặt tên cho vùng sương này, nhưng họ không sống ở đây một mình. Mộc Châu là nơi sinh sống của mười hai dân tộc anh em, trong đó có người Thái, người Mông, người Kinh, người Dao, người Mường. Vùng Mộc Châu hiện có bảy di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Trong đó, Lễ hội Hết Chá của người Thái trắng được công nhận năm hai nghìn không trăm mười sáu. Lễ hội thường diễn ra vào tháng Ba, mùa hoa ban nở, xoay quanh cây nêu trang trí hoa ban và hoa mạ. Đây không chỉ là lễ hội tâm linh mà còn là dịp để cộng đồng gặp nhau, cùng múa xòe Thái và chia sẻ ẩm thực truyền thống.

Rồi còn đó cảm giác đứng trước một dải thác nước hùng vĩ. Thác Dải Yếm ở bản Vặt, nay thuộc phường Mộc Châu, cao khoảng một trăm mét, chia thành hai cụm chính. Tên Dải Yếm gắn với một truyền thuyết của người Thái địa phương về cô gái chờ người yêu trở về từ chiến trận và trượt chân theo dòng thác. Dân bản chỉ tìm thấy dải yếm của cô mắc trên cành cây. Đây là truyền thuyết dân gian, nhưng nó giải thích tại sao nơi này mang cái tên đẹp và buồn như vậy. Đứng trên cầu kính Tình Yêu nhìn thẳng vào mặt thác, cả nhà sẽ hiểu tại sao câu chuyện về dải yếm năm xưa vẫn còn được kể mãi đến tận hôm nay.

Hang Dơi không phải là hang duy nhất của cao nguyên. Ở khu Bản Ôn còn có năm hang động, gọi chung là Ngũ động Bản Ôn, gắn với cách gọi theo ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Từ khoảng năm hai nghìn không trăm linh sáu, hệ thống hang bắt đầu đón khách vào khám phá. Trong lòng hang, thạch nhũ tự nhiên mang trăm hình dạng kỳ lạ, ánh đèn hắt lên những vòm đá mà nghìn năm chưa có tên gọi.

Mộc Châu không ồn ào. Không phô trương. Nó cứ ở đó, nghìn mét trên mặt biển, mát lạnh và xanh mướt, chờ ai đó leo lên để thấy rằng có những vùng đất mà mỗi mùa lại mang một khuôn mặt khác. Hoa mận trắng tháng Giêng, đồng cỏ xanh hè về, cải vàng rực cuối năm. Và bất kể cả nhà đến vào lúc nào, sương mù vẫn cuộn lên từ thung lũng mỗi sớm mai, như người Thái xưa đã thấy và gọi nơi này là Mường Mok, vùng đất của sương và lạnh.

Câu chuyện gần đây