Cao nguyên Mộc Châu
Cả nhà mình thử tưởng tượng điều này nhé.
Hơn nghìn năm trước, người Thái cổ đặt chân lên một vùng cao nguyên mát lạnh, mây mù giăng kín từ sáng sớm. Họ gọi nơi ấy là Mường Mok, nghĩa là vùng đất sương mù và lạnh giá. Tên gọi đó được nhà học giả Nguyễn Trãi ghi lại trong Dư địa chí từ thế kỷ mười lăm. Ngày nay, cái vùng đất ấy đã có một tên khác quen thuộc hơn với người Việt mình. Đó là Mộc Châu.
Cả nhà ơi, Mộc Châu không phải chỉ là một điểm du lịch. Ngày hai mươi hai tháng tư năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký quyết định công nhận đây là Khu du lịch quốc gia, với diện tích hơn hai trăm lẻ sáu nghìn héc ta, trải dài trên hai huyện Mộc Châu và Vân Hồ của tỉnh Sơn La. Từ Yên Châu xuống tới Suối Rút, cao nguyên kéo dài gần tám mươi cây số. Độ cao trung bình hơn một nghìn mét. Đó là lý do khí hậu ở đây mát lạnh, nhiệt độ trung bình năm chỉ khoảng mười tám đến hai mươi mốt độ, trong khi miền xuôi đang nắng gắt thì Mộc Châu vẫn mặc áo nhẹ.
Và từ năm hai nghìn không trăm hai mươi hai đến năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm, giải thưởng World Travel Awards trao danh hiệu Điểm đến thiên nhiên hàng đầu châu Á cho Mộc Châu bốn năm liên tiếp. Bốn năm liên tiếp, cả nhà ạ.
Chúng ta đang ở trên độ cao hơn một nghìn mét. Mùa xuân ở đây, người ta nhớ mãi là vì hoa mận. Tháng Giêng và đầu tháng Hai âm lịch, toàn bộ sườn đồi trở thành màu trắng. Không phải một rừng mà là hàng trăm, hàng nghìn cây mận đồng loạt bung nở giữa sương mù. Đó là hình ảnh mà rất nhiều khách đã đến rồi vẫn muốn quay lại chỉ để xem một lần nữa.
Nhưng Mộc Châu không chỉ đẹp mùa xuân. Mùa hè thì đồng cỏ xanh mướt, bò sữa gặm cỏ trên những thảo nguyên rộng. Cuối thu đầu đông, hoa cải vàng rực khắp nơi. Và cây chè. Hơn hai nghìn một trăm héc ta chè trải dài trên các sườn đồi, cho ra gần hai mươi lăm nghìn tám trăm tấn búp tươi mỗi năm. Chè Mộc Châu xuất khẩu sang tận Afghanistan, Pakistan, Đài Loan và Nhật Bản. Cả nhà có biết rằng tất cả bắt đầu từ năm một nghìn chín trăm năm mươi tám không?
Ngày tám tháng Tư năm đó, Nông trường Quốc doanh Mộc Châu được thành lập. Khoảng một nghìn bảy trăm cán bộ chiến sĩ từ Trung đoàn hai trăm tám mươi sau khi hoàn thành nghĩa vụ quốc tế tại Lào trở về, cầm cuốc lên cao nguyên khai phá đất. Sau nhiều năm thử nghiệm, người ta chọn cây chè làm hướng đi chủ lực. Và ngày tám tháng Năm năm một nghìn chín trăm năm mươi chín, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên thăm nông trường. Kỳ tích ấy được ghi nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia.
Nhà máy sữa Mộc Châu mà cả nhà vẫn uống hằng ngày cũng là hậu thân của nông trường ấy. Khí hậu mát và đồng cỏ rộng tạo ra điều kiện lý tưởng cho bò sữa. Cả nhà có thể thăm trang trại, thử sữa tươi vắt tại chỗ. Hương vị đó, không nơi nào khác có được.
Cả nhà thử nhìn vào rừng thông ở khu Bản Áng nhé. Rừng thông bao quanh một hồ nước tự nhiên rộng năm héc ta. Loài thông ở đây có tên khoa học là Pinus kwangtungensis, được xác nhận bởi các nhà nghiên cứu. Đây không phải rừng trồng tạm thời mà là rừng thông lâu năm thực sự. Buổi sáng sớm, khi sương còn phủ mặt hồ, tiếng thông reo và mùi nhựa cây tạo nên một không gian tĩnh lặng hiếm có.
Nhưng Mộc Châu còn một điều ít người biết hơn.
Năm một nghìn chín trăm chín mươi hai, các nhà khảo cổ từ Bảo tàng Sơn La và Viện Khảo cổ học Việt Nam khai quật một cái hang ở tiểu khu Tám của thị trấn Mộc Châu. Tên dân gian của hang là Hang Dơi. Họ phát hiện một tầng văn hóa dày, với đồ đá và đồ gốm. Kết luận: người Việt cổ đã sống ở đây cách nay ba nghìn đến ba nghìn năm trăm năm. Năm một nghìn chín trăm chín mươi tám, Hang Dơi được công nhận là di tích danh thắng cấp quốc gia. Diện tích trong hang là sáu nghìn chín trăm mười lăm mét vuông, chia thành ba buồng riêng biệt. Cửa hang quay về hướng nam và từ đó có thể nhìn xuống toàn bộ thị trấn Mộc Châu. Đó là một buổi chiều mà cả nhà nên dừng lại để ngắm.
Mộc Châu còn là nơi sinh sống của mười hai dân tộc anh em. Người Thái, người Mông, người Kinh, người Dao, người Mường. Huyện Mộc Châu hiện có bảy di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Trong đó, Lễ hội Hết Chá của người Thái trắng được công nhận năm hai nghìn không trăm mười sáu. Lễ hội diễn ra vào khoảng cuối tháng Ba âm lịch, xoay quanh cây nêu trang trí hoa ban và hoa mạ. Đây không chỉ là lễ hội tâm linh mà còn là dịp để cộng đồng gặp nhau, cùng múa xòe Thái và chia sẻ ẩm thực truyền thống.
Cả nhà muốn biết cảm giác đứng trước một dải thác nước hùng vĩ không? Thác Dải Yếm ở bản Vặt, xã Mường Sang được mô tả cao hơn một trăm mét, chia thành hai cụm chính. Tên Dải Yếm gắn với một truyền thuyết của người Thái địa phương về cô gái chờ người yêu trở về từ chiến trận và trượt chân theo dòng thác. Dân bản chỉ tìm thấy dải yếm của cô mắc trên cành cây. Đây là truyền thuyết dân gian, nhưng nó giải thích tại sao nơi này mang cái tên đẹp và buồn như vậy. Đứng trên cầu kính Tình Yêu nhìn thẳng vào mặt thác, cả nhà sẽ hiểu tại sao câu chuyện về dải yếm năm xưa vẫn còn được kể mãi đến tận hôm nay.
Và còn một hệ thống hang nữa cần nhắc đến. Ngũ động Bản Ôn, năm hang động nằm trong khu Bản Ôn, gắn với cách gọi theo ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Hang được phát hiện thời kháng chiến chống Mỹ và từng do bộ đội quản lý. Năm hai nghìn không trăm linh sáu, người dân địa phương mở cửa đón khách vào khám phá. Trong lòng hang, thạch nhũ tự nhiên mang trăm hình dạng kỳ lạ, ánh đèn hắt lên những vòm đá mà nghìn năm chưa có tên gọi.
Mộc Châu không ồn ào. Không phô trương. Nó cứ ở đó, nghìn mét trên mặt biển, mát lạnh và xanh mướt, chờ ai đó leo lên để thấy rằng có những vùng đất mà mỗi mùa lại mang một khuôn mặt khác. Hoa mận trắng tháng Giêng, đồng cỏ xanh hè về, cải vàng rực cuối năm. Và bất kể cả nhà đến vào lúc nào, sương mù vẫn cuộn lên từ thung lũng mỗi sớm mai, như hàng nghìn năm trước người Thái cổ đã thấy và gọi nơi này là Mường Mok, vùng đất của sương và lạnh.