Khu di tích Cổ Loa
Cách đây hơn hai nghìn ba trăm năm, những người Việt cổ đã dùng công cụ thô sơ để đào và đắp hơn hai triệu hai trăm nghìn mét khối đất. Họ tạo ra ba vòng thành đất xoắn ốc, tổng chiều dài gần mười sáu cây số. Tất cả chỉ bằng sức người và công cụ bằng đồng.
Đó là Thành Cổ Loa. Và những vòng thành đất ấy, hơn hai nghìn năm sau, vẫn còn đứng đây.
Cổ Loa nằm ở huyện Đông Anh, Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng mười bảy cây số về phía bắc. Tên "Cổ Loa" viết bằng chữ Hán nghĩa là "ốc cổ", bởi vì ba vòng thành xếp vào nhau, nhìn từ trên xuống trông như một cái vỏ ốc khổng lồ. Người xưa thật tài hoa trong cách đặt tên.
Ai đã xây thành này?
Theo truyền thuyết được chép trong sử Việt, vào khoảng thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, thủ lĩnh Thục Phán đã đánh bại Hùng Vương thứ mười tám, lên ngôi lấy hiệu An Dương Vương, đặt tên nước là Âu Lạc, kết hợp hai nhóm người Tây Âu và Lạc Việt. Ông dời đô từ Phong Châu về Cổ Loa và cho xây thành.
Và người ta đã nghi ngờ đây chỉ là truyền thuyết. Cho đến khi khoa học lên tiếng.
Từ năm hai nghìn không trăm linh năm đến năm hai nghìn không trăm linh tám, các nhà khảo cổ của Đại học Wisconsin-Madison ở Mỹ phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam đã lấy mẫu đất ở các vòng thành Cổ Loa và đo tuổi bằng carbon phóng xạ. Kết quả: thành được xây vào thế kỷ thứ ba đến thứ hai trước Công nguyên. Trùng khớp hoàn toàn với thời kỳ An Dương Vương theo truyền thuyết.
Khoa học hiện đại đã xác nhận điều mà sử Việt đã chép hai nghìn năm trước.
Vòng thành trong cùng, gọi là Thành Nội, là trung tâm hành chính và cung điện của An Dương Vương, có chu vi một cây số sáu trăm năm mươi mét. Vòng giữa là Thành Trung, chu vi sáu cây số rưỡi. Vòng ngoài cùng là Thành Ngoại, chu vi tám cây số. Thành cao trung bình bốn đến năm mét, có chỗ cao đến mười hai mét, tương đương toà nhà bốn tầng. Chân thành rộng hai mươi đến ba mươi mét.
Cả nhà thử tưởng tượng: với dân số Âu Lạc ước tính khoảng một triệu người, nếu chia đều hai triệu hai trăm nghìn mét khối đất cho mỗi người, thì mỗi người Việt cổ phải đào và đắp hơn hai mét khối đất. Bằng công cụ đồng. Không có máy móc.
Họ đã làm điều đó.
Hàng vạn mũi tên đồng ba cạnh đã được tìm thấy tại Cổ Loa. Loại mũi tên này có khí động học rất tốt, bay xa và xuyên giáp hiệu quả. Đây là bằng chứng vật chất cho thấy những trận chiến quy mô lớn đã thực sự diễn ra ở đây. Và có lẽ chính từ loại nỏ bắn nhiều mũi tên cùng lúc mà dân gian đã gọi là "nỏ thần".
Mũi tên đồng ba cạnh còn gắn với câu chuyện bi kịch nhất trong lịch sử Việt Nam cổ đại: câu chuyện Mỵ Châu và Trọng Thuỷ.
Theo truyền thuyết được chép trong sử, Triệu Đà, vua nước Nam Việt ở phương bắc, đánh Âu Lạc nhiều lần nhưng thua vì nỏ thần của An Dương Vương. Triệu Đà bèn giả vờ giảng hoà, cho con trai là Trọng Thuỷ sang Cổ Loa làm rể, lấy con gái An Dương Vương là Mỵ Châu. Đôi vợ chồng yêu nhau thật. Nhưng Trọng Thuỷ đánh tráo lẫy nỏ thần rồi xin về thăm cha. Triệu Đà lại đem quân đến, lần này thành Cổ Loa thất thủ.
An Dương Vương cùng Mỵ Châu chạy về phía biển. Mỵ Châu không biết chồng là gián điệp, vẫn rắc lông ngỗng trên đường để cha và chồng có thể tìm nhau. Nhưng chính những chiếc lông ngỗng đó đã chỉ đường cho quân Triệu Đà.
Khi đến biển, Thần Kim Quy hiện ra nói với An Dương Vương: "Giặc ngồi sau lưng nhà vua đó." An Dương Vương rút gươm chém Mỵ Châu, rồi nhảy xuống biển. Trọng Thuỷ theo dấu lông ngỗng đến nơi, thấy Mỵ Châu đã chết, ôm xác vợ về Cổ Loa, rồi nhảy xuống Giếng Ngọc tự vẫn.
Tương truyền máu Mỵ Châu chảy xuống biển hoá thành ngọc trai. Và nước Giếng Ngọc rửa ngọc trai làm ngọc thêm sáng.
Nhà thơ Tố Hữu năm một nghìn chín trăm sáu mươi hai đã viết:
Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu, trái tim lầm chỗ để trên đầu. Nỏ thần vô ý trao tay giặc, nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.
Khu di tích Cổ Loa còn giữ lại Đền Thượng thờ An Dương Vương, xây năm một nghìn sáu trăm tám mươi bảy thời Lê. Giếng Ngọc nằm giữa hồ nước, nơi Trọng Thuỷ theo truyền thuyết đã tự vẫn. Am Mỵ Châu thờ bức tượng đá không đầu, hình ảnh bi thương nhất còn lại của câu chuyện ấy.
Đứng trước những vòng thành đất cao ngút, hơn hai nghìn năm vẫn đứng, cả nhà sẽ hiểu vì sao người ta gọi đây là chứng nhân câm lặng của một vương quốc đã mất.
Năm hai nghìn không trăm mười hai, khu di tích được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt. Đây là một trong số ít nơi trên thế giới mà truyền thuyết và khoa học gặp nhau, xác nhận nhau, cùng kể một câu chuyện về tổ tiên người Việt.