Bản Cát Cát
Chỉ cần rời trung tâm Sa Pa và đi theo hướng dãy Hoàng Liên Sơn khoảng hai cây số, cả nhà sẽ bước vào một không gian khác hẳn.
Đó là Bản Cát Cát, điểm bản làng gần trung tâm Sa Pa nhất. Nguồn của Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai đều xác nhận khoảng cách này. Và tuy chỉ cách trung tâm hai cây số, cái cảm giác khi vào bản hoàn toàn khác. Đường hẹp hơn, yên hơn, không khí mát hơn. Xung quanh là nương ruộng, nhà gỗ và tiếng nước chảy từ suối.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai cho biết Cát Cát được hình thành từ giữa thế kỷ mười chín. Bản chủ yếu có người Mông sinh sống. Đầu thế kỷ hai mươi, người Pháp phát hiện khu vực này và xây dựng nhà máy thủy điện đầu tiên tại đây. Đó là lý do ở đây còn có cọn nước, những guồng quay lấy nước từ dòng suối, một chi tiết bắt mắt khi đi bộ xuống bản.
Điều mà Cát Cát được biết đến nhiều nhất là nghề thủ công.
Cơ sở dữ liệu ngành du lịch quốc gia thuộc Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam mô tả rất chi tiết quy trình làm vải thổ cẩm của người Mông ở đây. Bắt đầu từ trồng cây lanh, tước vỏ, xe sợi, dệt thành vải. Sau đó nhuộm chàm, sử dụng nước tro thảo mộc và cây lá rừng để lên màu. Công đoạn cuối là đánh bóng vải bằng cách dùng khúc gỗ tròn lăn trên tấm vải đặt lên phiến đá có bôi sáp ong. Cái bóng láng đặc trưng của vải lanh người Mông chính là từ công đoạn tưởng đơn giản đó.
Ngoài dệt vải, Cát Cát còn nổi tiếng với nghề chạm bạc. Nguồn này mô tả quy trình từ nung chảy bạc, rót vào khuôn, rèn, giũa, chạm hoa văn, đánh trắng đến làm bóng. Những vòng cổ, vòng tay, dây xà tích và nhẫn bạc của người Mông không chỉ là đồ trang sức mà còn mang ý nghĩa trong lễ tục và đời sống cộng đồng.
Khi đi qua khu nghề thủ công trong bản, cả nhà sẽ có dịp xem người dân làm việc. Đây không phải màn trình diễn được dàn dựng. Người ta đang làm thật, và sản phẩm họ làm ra là phương tiện mưu sinh, gắn với từng nếp nhà gỗ trong bản.
Điểm cảnh quan nổi bật nhất của Cát Cát là thác Tiên Sa. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai dùng tên này trong bài giới thiệu. Thác nằm trong bản, cạnh suối và khu cọn nước, tạo ra cảnh quan tươi mát giữa không gian núi và vườn ruộng. Tiếng nước đổ trắng xóa trên đá, hòa với tiếng guồng nước quay đều, là âm thanh cả nhà sẽ nhớ mãi khi rời bản.
Cuối tuyến tham quan, Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam cho biết bản còn có khu biểu diễn văn nghệ dân tộc. Ở đó vang lên điệu khèn, tiếng đàn môi và những tiết mục dân gian, như một lời chào của người Mông dành cho khách đường xa.
Cát Cát là nơi giúp cả nhà hiểu tại sao người Mông sống ở đây nhiều thế hệ. Đất lành nhờ có suối. Núi che gió. Cây rừng cho nguyên liệu làm thuốc và làm nghề. Cộng đồng đủ gần trung tâm Sa Pa để kết nối với bên ngoài, nhưng đủ xa để giữ được nhịp sống riêng.
Đứng giữa bản, nghe suối chảy, nhìn khói bếp len qua mái gỗ và những tấm vải lanh phơi xanh thẫm bên hiên. Đó là một nếp sống đã bền bỉ ở chân núi Hoàng Liên Sơn suốt bao đời.