Bản Cát Cát
Đôi bàn tay ấy xe từng sợi lanh, chậm rãi và đều đặn, sợi này nối sợi kia, vòng này nối vòng kia. Đó là đôi tay của một người phụ nữ Mông ở bản Cát Cát, dưới chân dãy Hoàng Liên Sơn. Từ trung tâm Sa Pa, chỉ cần đi chừng hai cây số theo con đường về phía núi Fansipan là tới nơi chị sống.
Mình cùng theo chân chị một ngày trong bản nhé. Ngày của chị bắt đầu từ những sợi lanh, và sẽ khép lại khi bóng chiều phủ xuống những mái nhà gỗ.
Ngôi nhà của chị dựa lưng vào sườn núi, như phần lớn những nếp nhà ở Cát Cát. Nhà có ba gian. Vì kèo có ba cột ngang, các cột kê trên những phiến đá tròn hoặc vuông. Mái lợp bằng ván gỗ pơ mu, vách dựng bằng gỗ xẻ. Quanh nhà là những bụi tre và những thửa ruộng bậc thang. Nhà nọ cách nhà kia chừng vài chục mét, phần nhiều nằm dọc theo con đường bậc đá dẫn xuống lòng bản.
Bước vào trong, mỗi khoảng nhà có một việc riêng. Có không gian thờ. Có sàn gác cất lương thực dự trữ. Có chỗ ngủ, có gian bếp và có nơi tiếp khách. Nhà có ba cửa ra vào, nhưng cánh cửa chính thì luôn đóng kín. Nó chỉ mở ra khi gia đình có việc lớn, như đám cưới, tang lễ, hay những lần cúng lễ vào dịp Tết. Một cánh cửa biết kiên nhẫn chờ, chờ những ngày hệ trọng nhất của một gia đình.
Sợi lanh trong tay chị có một hành trình rất dài. Người Mông ở đây xe lanh thành sợi, rồi ngồi bên khung cửi dệt sợi thành vải. Nhưng tấm vải mộc vừa rời khung cửi vẫn chưa phải là xong. Nó còn phải đi qua chậu nhuộm chàm, rồi qua nước tro thảo mộc và những loại cây lá hái từ rừng để lên màu.
Rồi đến công đoạn mà ai đứng xem cũng thấy tò mò. Tấm vải được trải lên một phiến đá đã bôi sáp ong. Người làm đặt lên đó một khúc gỗ tròn và lăn qua, lăn lại trên mặt vải. Cứ thế, cứ thế, cho tới khi tấm vải lên nước bóng. Cái bóng láng rất riêng của vải lanh người Mông đến từ chính công việc tưởng chừng giản dị ấy.
Trên những tấm thổ cẩm nhiều màu sắc, hoa văn mô phỏng cây, lá, hoa và muông thú. Nhìn thật gần, mỗi tấm vải giống như một mảnh rừng núi được gấp gọn lại. Trong bản, người ta vẫn giữ nghề thêu, nghề vẽ sáp ong lên vải, và nghề đan lát những đồ dùng trong nhà.
Giữa buổi, chị theo con đường bậc đá đi xuống. Đường ngang qua nhà một người thợ bạc. Nghề chạm bạc ở Cát Cát có từ rất lâu. Bạc được nung cho chảy ra, rót vào khuôn, rồi rèn, rồi giũa. Sau đó người thợ chạm hoa văn, đánh trắng và làm bóng. Từ những bước kiên nhẫn ấy, vòng cổ, vòng tay, dây xà tích và những chiếc nhẫn lần lượt ra đời. Tinh xảo nhất là đồ trang sức của phụ nữ. Cách đó không xa, có người đang rèn nông cụ cho nương ruộng.
Khách đến Cát Cát bây giờ được đứng xem tận mắt những công việc ấy. Bản đã thành một điểm du lịch cộng đồng của người Mông, nơi người ở xa có thể bước vào cuộc sống thường ngày của những nếp nhà dưới chân núi.
Mà bản Cát Cát đâu có mới. Bản đã hình thành từ giữa thế kỷ mười chín. Đầu thế kỷ hai mươi, người Pháp tìm tới đây và chọn bản làm nơi nghỉ dưỡng cho các quan chức của họ. Người Lào Cai vẫn kể rằng ngọn thác trong bản từng mang một cái tên tiếng Pháp, và tên Cát Cát bắt nguồn từ tên gọi ấy.
Năm một nghìn chín trăm hai mươi lăm, người Pháp bắt đầu xây nhà máy thủy điện đầu tiên ở đây, bên dòng suối Hoa. Dòng điện từ nhà máy nhỏ ấy chủ yếu để chạy hệ thống máy điện tín ở Sa Pa. Mãi tới năm một nghìn chín trăm chín mươi ba, khi lưới điện quốc gia về tới Sa Pa, nhà máy mới dừng phát điện. Hôm nay con đập trên suối, con mương dẫn nước, bể điều áp, những ống thép dẫn nước và ngôi nhà vận hành vẫn được giữ gìn. Nhà máy đã nghỉ ngơi, nằm yên nghe suối chảy.
Xuống tới giữa bản, ba dòng suối gặp nhau. Đó là suối Tiên Sa, suối Vàng và suối Bạc. Ngay tại chỗ ấy, thác Cát Cát, còn gọi là thác Tiên Sa, đổ nước trắng xóa xuống ghềnh đá. Hai chiếc cầu treo là cầu Si và cầu A Lứ bắc ngang dòng nước. Đứng trên cầu, tiếng nước vọng lên ngay dưới chân.
Trong bản còn có một chiếc cối giã gạo rất lạ. Nó không cần sức người, mà chạy bằng sức nước. Nước suối chảy vào, chày cối nhấc lên rồi giáng xuống, cứ đều đều như thế mà gạo được giã sạch vỏ. Các bạn nhỏ chắc sẽ muốn đứng nhìn chiếc cối ấy thật lâu, để đếm xem nó nhịp được bao nhiêu lần.
Buổi chiều, từ khu biểu diễn văn nghệ vang lên điệu khèn và tiếng đàn môi. Khách được mời vào nhảy sạp cùng các chàng trai, cô gái người Mông, chân bước nhịp nhàng giữa những thanh sạp gõ nhịp. Tiếng cười của người trong bản và người phương xa hòa vào một nhịp.
Mỗi dịp đầu năm, Cát Cát lại có lễ hội Gầu Tào. Đó là lễ hội lớn nhất trong năm của bản, để cầu phúc, cầu mệnh. Những ngày ấy, bản làng rộn ràng hơn hẳn mọi ngày thường.
Trong những bữa cơm của bản có bánh ngô, có thịt hun khói, có đậu xị. Khói bếp từ những gian bếp nhỏ bay lên, lẫn vào mái ván pơ mu, rồi tan dần vào sườn núi.
Hoàng hôn buông xuống Cát Cát. Chị trở về ngôi nhà ba gian dựa lưng vào núi. Cánh cửa chính vẫn đóng kín, đợi một ngày hệ trọng nào đó. Bên ánh lửa bếp, đôi bàn tay lại cầm lấy sợi lanh, xe thêm một vòng, rồi thêm một vòng nữa.