Cầu Long Biên
Nhìn từ bờ sông Hồng, Cầu Long Biên là một dải thép màu nâu đỏ vắt ngang mặt nước. Nhịp này nối nhịp kia, cứ thế chạy dài sang bờ bên kia.
Dáng của nó lạ. Không trơn tru như các cầu hiện đại. Mọi thứ đều lộ thiên: thanh ngang, thanh chéo, bu lông, khớp nối. Đây là kiến trúc công nghiệp Pháp thế kỷ mười chín, thứ không che cấu trúc mà trưng nó ra.
Và cây cầu này đã trải qua nhiều biến cố hơn hầu hết những di tích khác ở Hà Nội. Nó được dựng lên, bị phá đi, rồi lại được nối liền.
Câu chuyện bắt đầu vào cuối thế kỷ mười chín. Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer quyết định xây một cây cầu lớn qua sông Hồng, nối Hà Nội với cảng Hải Phòng và với tuyến đường sắt lên Vân Nam, Trung Quốc. Công ty Daydé và Pillé của Pháp thắng thầu. Bản thiết kế của họ dựa trên cầu Tolbiac ở quận mười ba, thành phố Paris. Giá bỏ thầu của họ là năm triệu ba trăm chín mươi nghìn bảy trăm chín mươi tư franc Pháp. Một con số dài đến mức đọc lên cũng phải lấy hơi. Khi cầu xây xong, tổng chi phí còn lên tới sáu triệu hai trăm nghìn franc.
Lễ khởi công diễn ra ngày mười hai tháng chín năm một nghìn tám trăm chín mươi tám. Ba nghìn công nhân Việt Nam cùng bốn mươi chuyên gia Pháp đã chung tay dựng nên cây cầu. Trên công trường bên sông, từng trụ cầu lần lượt mọc lên, cho đến khi đủ hai mươi trụ, mỗi trụ cao hơn bốn mươi mét, tính cả phần móng dưới lòng sông. Rồi mười chín nhịp dầm thép được gác lên, nối trụ này sang trụ kia, vươn dần qua dòng nước.
Để làm nên chừng ấy, người ta cần tới năm nghìn sáu trăm tấn thép cán và ba mươi nghìn mét khối đá. Rồi còn hơn một trăm tấn gang, hơn một trăm tấn sắt, và cả bảy tấn chì.
Ngày hai mươi tám tháng hai năm một nghìn chín trăm linh hai, lúc tám giờ ba mươi sáng, chuyến tàu đầu tiên lăn bánh ra cầu. Trên tàu có vua Thành Thái và Toàn quyền Doumer, đến dự lễ khánh thành. Tiếng bánh sắt vang lên trên những nhịp thép mới tinh, giữa trời và nước.
Phần cầu chính dài hai nghìn hai trăm chín mươi mét. Nối thêm tám trăm chín mươi sáu mét đường dẫn, cả cây cầu dài chừng ba nghìn một trăm tám mươi sáu mét.
Tên cầu lúc đó là Cầu Doumer, mang tên chính vị Toàn quyền đã cho xây nó. Về sau, cây cầu được đổi sang một cái tên mới: Long Biên. Từ khi Hà Nội được giải phóng năm một nghìn chín trăm năm mươi tư, cầu mang cái tên ấy cho đến tận hôm nay.
Nửa đầu câu chuyện là thép, đá và những đoàn tàu. Nửa sau khó khăn hơn nhiều.
Từ năm một nghìn chín trăm sáu mươi lăm đến năm một nghìn chín trăm bảy mươi hai, không quân Mỹ ném bom để phá giao thông miền Bắc. Cầu Long Biên khi ấy là tuyến đường sắt độc đạo qua sông Hồng vào Hà Nội. Muốn cắt đường tàu, người ta nhắm vào cây cầu. Trong bảy năm đó, cầu bị ném bom tổng cộng mười bốn lần.
Riêng chiến dịch Sấm Rền đã đánh vào cầu mười lần. Có lúc cầu đứt hẳn, xe lửa không qua được, người ta phải dùng phà. Nhưng công nhân sửa. Rồi cầu lại bị phá. Rồi họ lại sửa.
Năm một nghìn chín trăm bảy mươi hai, cầu bị ném bom thêm bốn lần nữa. Rồi đến tháng mười hai năm ấy là chiến dịch Linebacker Hai. Máy bay bê năm hai của Mỹ ném bom Hà Nội suốt mười hai ngày đêm, bắt đầu từ ngày mười tám.
Riêng những trận bom năm một nghìn chín trăm bảy mươi hai đã làm hư hại tới một nghìn năm trăm mét cầu. Qua tất cả các trận, chín nhịp và bốn trụ bị phá nghiêm trọng. Cây cầu ban đầu có mười chín nhịp, nghĩa là gần một nửa số nhịp ấy từng bị phá nặng.
Suốt thời chiến, chính cây cầu còn được dùng làm điểm cao để đặt ụ pháo phòng không. Các chiến sĩ pháo cao xạ trụ lại ngay trên những điểm cao nhất của khung thép, bắn lên những chiếc máy bay bay tới. Khi chiến dịch Linebacker Hai khép lại, theo số liệu của phía Việt Nam, đã có tám mươi mốt máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có ba mươi tư chiếc bê năm hai. Mười hai ngày đêm ấy về sau được nhớ tới với cái tên Hà Nội, Điện Biên Phủ trên không.
Ngày ba mươi tháng mười hai năm một nghìn chín trăm bảy mươi hai, bom ngừng rơi trên Hà Nội. Ngay ngày hôm ấy, công nhân Việt Nam bắt tay vào sửa cầu. Đến ngày mười một tháng hai năm một nghìn chín trăm bảy mươi ba, cầu đã thông trở lại.
Phần lớn những nhịp bị phá được thay bằng dầm thép kiểu mới. Thế nên hôm nay, có nhịp còn từ năm một nghìn chín trăm linh hai, có nhịp được dựng lại trong những năm bảy mươi. Đó là lý do cây cầu trông lạ. Không hẳn cũ, cũng không hẳn mới. Nó là cả hai cùng một lúc.
Hôm nay Cầu Long Biên đã về hưu khỏi vai trò giao thông chính. Việc lớn được nhường lại cho những cây cầu mới như Chương Dương, Thanh Trì và Nhật Tân. Cầu giờ chỉ còn dành cho đường sắt, xe máy, xe đạp và người đi bộ.
Đi bộ qua cầu, cả nhà sẽ thấy hai bên là lối đi hẹp, còn đường tàu hỏa chạy ngay ở giữa. Ngẩng lên là những thanh chéo đan vào nhau. Cúi xuống là dòng sông.
Dưới chân cầu, giữa lòng sông là bãi giữa, một bãi bồi trồng trọt với ruộng rau, vườn chuối và một cộng đồng nhà tạm. Giữa một thành phố lớn mà vẫn có người trồng chuối bên sông, ngay dưới bóng một cây cầu hơn trăm tuổi. Cảnh ấy hiếm thấy lắm.
Bình minh và hoàng hôn là lúc đẹp nhất để đứng trên cầu. Khi ấy, ánh sáng đổ xiên qua các nhịp thép, rải những ô sáng tối lên lối đi, rồi soi xuống mặt nước. Nếu may, một đoàn tàu sẽ chạy qua giữa cầu, tiếng bánh sắt dội vào khung thép. Rồi tiếng ấy xa dần về phía bờ bên kia. Chỉ còn lại những nhịp thép nâu đỏ, cũ có mới có, lặng lẽ nối hai bờ sông Hồng, như từ buổi sáng đầu tiên năm một nghìn chín trăm linh hai.