Khu trung tâm Châu Đốc cũ - Chợ, bờ sông, Đình Châu Phú
Không phải mọi thành phố đều giới thiệu bản thân bằng kiến trúc. Châu Đốc chọn cách khác: bằng mùi mắm, nhịp chợ sáng và tiếng sóng nước trên sông Hậu.
Đứng trên đường Bạch Đằng nhìn ra mặt sông, cả nhà đang ở một trong những cửa ngõ lịch sử lâu đời nhất của vùng Tây Nam Bộ. Nơi đây, bốn dân tộc Kinh, Hoa, Chăm, Khmer cùng sinh sống trên một dải đất ven sông Hậu, tạo thành một đầu mối giao thông thủy bộ sôi động bậc nhất miền biên giới. Sự giao thoa đó không chỉ thấy trong phong tục tập quán, mà còn nghe được trong tiếng gọi hàng, tiếng kèo cưa, tiếng mời chào ở chợ.
Danh xưng Châu Đốc lần đầu xuất hiện năm một nghìn bảy trăm năm mươi bảy. Theo Báo An Giang, đó là khi chúa Nguyễn Phúc Khoát theo ý kiến của Nguyễn Cư Trinh cho đặt ba đạo Tân Châu, Châu Đốc và Đông Khẩu để quản lý quân sự vùng mới. Nghĩa là cái tên Châu Đốc ra đời không phải từ một thị tứ bình yên, mà từ nhu cầu phòng thủ và khai mở vùng biên giới. Từ đó đến nay, gần ba trăm năm, Châu Đốc vẫn giữ cái cốt cách của một đô thị biên giới: thực dụng, nhiều màu sắc và đầy nhịp sống.
Chợ Châu Đốc trên đường Bạch Đằng là điểm khởi đầu tốt nhất để cảm nhận vùng đất này. Đây là chợ thực phẩm sôi động với đặc sản địa phương như cá, mắm và đồ khô, nơi nghề làm mắm và chế biến thủy sản đã trở thành một phần bản sắc Tây Nam Bộ của Châu Đốc. Khi đi qua các sạp mắm và đồ khô, cả nhà có thể thấy đây không chỉ là hàng hóa thông thường, mà là kết quả của môi trường sông nước, nguồn cá dồi dào, kỹ thuật ủ muối lâu đời và mạng lưới giao thương đã hình thành qua nhiều thế hệ.
Từ chợ, di chuyển ra phía bờ sông. Châu Đốc xưa từng là thương cảng sầm uất, nơi hàng hóa từ Campuchia đổ về khắp miền Tây Nam Bộ. Nhìn ra mặt nước sông Hậu hôm nay, vẫn còn thấy bóng thuyền qua lại và cảm nhận nhịp sống sông nước đã gắn bó với vùng đất này từ thế kỷ mười tám.
Từ bờ sông, tuyến đi bộ đưa cả nhà đến Đình Châu Phú, tọa lạc tại góc đường Trần Hưng Đạo giao Nguyễn Văn Thoại. Đình là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, gắn với lễ tưởng niệm Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh. Ông là vị tướng thời chúa Nguyễn từng vào Nam kinh lược năm một nghìn sáu trăm chín mươi tám, lập hai trấn đầu tiên ở Nam Bộ là Phiên Trấn và Biên Trấn.
Đình Châu Phú có quy mô ngang mười sáu mét, dài bốn mươi mét. Bên trong có bốn hàng cột với bốn mươi cây cột lớn bằng gỗ căm xe và cà chất, cùng hoành phi, liễn đối, bao lam sơn son thếp vàng và các mảng chạm trang trí gồm bát tiên, tứ linh, chim muông, hoa lá và rồng. Công trình hiện nay gắn với lần di dời năm một nghìn chín trăm hai mươi sáu, khi khu vực đình cũ được chọn xây bệnh viện Châu Đốc và bà Huỳnh Thị Phú cùng Hương chủ Lan vận động người dân đóng góp để di chuyển và xây dựng lại đình ở vị trí hiện tại. Đây là một câu chuyện về cộng đồng: ngôi đình không tự đứng vững, mà đứng được nhờ những người dân không muốn mất đi ký ức chung của mình.
Đình Châu Phú vẫn là một không gian thờ tự đang sống. Mỗi năm, vào tháng năm âm lịch, đình mở lễ Kỳ Yên để tưởng niệm Nguyễn Hữu Cảnh. Những ngày ấy, khói hương quyện trong mái đình cũ, tiếng trống, tiếng nhạc lễ vang lên, và cả nhà sẽ thấy sinh hoạt tín ngưỡng của người Châu Đốc theo đúng lối truyền thống bao đời.
Trên đường đi giữa các điểm, cả nhà sẽ bắt gặp một vài ngôi nhà cũ kiểu Nam Bộ nép mình giữa những dãy phố hiện đại. Châu Đốc còn một số nhà trên một trăm năm tuổi, trong đó có nhà dòng họ Lê Công, khởi công năm một nghìn chín trăm lẻ chín và hoàn tất năm một nghìn chín trăm mười hai. Mái ngói rêu phong, cột gỗ sẫm màu thời gian, mỗi nếp nhà như giữ riêng một mảnh ký ức của thị trấn biên giới này.
Đi hết khu trung tâm Châu Đốc cũ, cả nhà sẽ hiểu vì sao vùng đất này không cần một tấm bảng để chứng minh chiều sâu của mình. Lịch sử ở đây nằm trong lớp chợ, trong mái đình, trên bến sông, trong những nếp nhà xưa và trong ký ức của cư dân. Đứng bên bờ sông Hậu, nghe tiếng chợ vọng lại sau lưng và nhìn những con thuyền chậm rãi xuôi dòng, cả nhà sẽ cảm thấy nhịp sống của một đô thị biên giới đã đi qua gần ba trăm năm vẫn còn đang thở, ngay trước mắt mình.