Chùa Am
Có những ngôi chùa nổi tiếng vì vàng son hay quy mô bề thế. Chùa Am ở Đức Thọ, Hà Tĩnh nổi tiếng vì một thứ khác, câu chuyện về người phụ nữ dám đặt cược cả gia sản vào một cuộc cách mạng chưa biết thắng hay bại.
Chùa Am có tên chữ là Diên Quang tự, nghĩa là chùa ánh sáng xa. Ngôi chùa tọa lạc trên sườn phía nam núi Am, lưng tựa vách đá, phía trước nhìn ra thung lũng, sông Ngàn Sâu và xa hơn là dãy núi Giăng Màn theo cách gọi của người địa phương. Trang Du lịch Hà Tĩnh và Báo Hà Tĩnh đều mô tả đây là không gian núi non xanh thẳm bao bọc một ngôi cổ tự hơn sáu trăm năm tuổi.
Theo Cổng thông tin điện tử huyện Đức Thọ, chùa được xếp hạng di tích quốc gia vào ngày mười ba tháng hai năm một nghìn chín trăm chín mươi lăm. Quyết định mang số một trăm tám mươi tám, do Bộ Văn hóa và Thông tin ban hành. Đây không phải danh hiệu trang trí. Di tích quốc gia là mức công nhận dành cho những nơi có giá trị lịch sử, văn hóa hoặc kiến trúc đáng được cả nước biết đến và bảo vệ.
Vậy người phụ nữ ấy là ai?
Báo Hà Tĩnh và trang thông tin xã Đức Thọ đều ghi bà tên thật là Trần Thị Ngọc Hào, vợ vua Trần Duệ Tông, được phong Hoàng hậu Bạch Ngọc. Quê bà ở Hương Bình, thuộc vùng Hà Tĩnh ngày nay. Sau khi nhà Trần sụp đổ, bà về quê, khai khẩn đất hoang ở vùng Đức Thọ, lập làng mạc, tổ chức đời sống cho người dân.
Rồi đến năm một nghìn bốn trăm hai mươi tư, theo nguồn địa phương ghi lại, bà quyết định dâng của cải cho nghĩa quân Lam Sơn đang chiến đấu giành lại đất nước từ tay quân Minh. Lúc bấy giờ, Lê Lợi vẫn đang trong giai đoạn gian khổ nhất, chưa ai dám chắc cái kết. Bà vẫn quyết. Đó là một quyết định không nhỏ.
Sau khi kháng chiến thắng lợi, các nguồn địa phương ghi bà dựng chùa Diên Quang để tu hành và cảm tạ ơn Phật. Cần nói rõ với các bạn rằng những chi tiết về cuộc đời Hoàng hậu Bạch Ngọc phần lớn được truyền qua tư liệu địa phương và huyền sử. Chúng ta nên xem đây là ký ức văn hóa của người dân Đức Thọ. Đó là cách cộng đồng lưu giữ lòng biết ơn người mở đất và người dám hy sinh, chứ không phải sự kiện được kiểm chứng đầy đủ theo tiêu chuẩn sử học hiện đại.
Nhưng dù thế nào, ngôi chùa vẫn đứng đó, sáu trăm năm. Và điều đó tự nói lên nhiều thứ.
Bước vào khuôn viên chùa, cả nhà sẽ đi qua tam quan rồi theo bậc cấp lên chính điện. Trang Du lịch Hà Tĩnh mô tả tuyến đường lên chùa đi qua tháp mộ, am thờ thổ thần và các khoảng sân nghỉ, tạo cảm giác chuyển dần từ không gian làng xóm, cây rừng vào không gian thờ tự.
Điểm đáng chú ý nhất là chính điện. Báo Hà Tĩnh mô tả kết cấu gỗ với bảy gian chính, hai gian hồi, sáu mươi cột gỗ và mái ngói âm dương kiểu chồng diềm mười hai mái. Người ta gọi cấu trúc này là bố cục chữ Công, tức hình dáng tổng thể giống chữ Công trong Hán tự. Và điều thú vị là dáng mái của cả tòa chính điện. Theo lời Đại đức Thích Nhẫn Nguyện phụ trách chùa, được Báo Hà Tĩnh ghi lại, mái chùa mô phỏng hình ảnh thuyền Bát Nhã. Đó là con thuyền trí tuệ trong biểu tượng Phật giáo Đại thừa, đưa con người vượt qua bể khổ.
Đây là cách lý giải biểu tượng đã được Báo Hà Tĩnh ghi lại. Nhìn từ dưới lên, những lớp mái chồng lên nhau như những con sóng đang nâng con thuyền vươn về phía trời.
Trong chính điện, Báo Hà Tĩnh ghi chùa thờ Tam Thế Phật, Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà và Phật Quan Âm cùng các vị Bồ tát. Riêng khu thờ Hoàng hậu Bạch Ngọc đặt ở vị trí trang trọng, nơi người dân đến dâng hương tưởng nhớ người đã khai phá mảnh đất này.
Xung quanh khuôn viên chùa còn có các tháp mộ của sư tổ và những phiến đá mọc tự nhiên mà người địa phương gọi là Bái Phật tảng hay Bái Phật Lạy Tăng, nghĩa là đá quỳ lạy Phật. Báo Hà Tĩnh và Du lịch Hà Tĩnh đều nhắc đến nhóm đá này. Đây là tên gọi dân gian cho hình dáng tự nhiên của đá trên sườn núi, không phải sự kiện linh thiêng đã được kiểm chứng. Nhưng cái cách người dân đặt tên cho đá cũng cho thấy họ gắn thiên nhiên xung quanh vào không gian tâm linh của ngôi chùa.
Chùa Am có hai dịp đông khách nhất trong năm. Một là rằm tháng Giêng, hai là ngày hai mươi hai tháng sáu âm lịch, lễ giỗ Hoàng hậu Bạch Ngọc, theo Báo Hà Tĩnh và nguồn xã Đức Thọ. Vào những ngày ấy, người từ khắp nơi về để thắp hương cho người đàn bà đã chọn ở lại với vùng đất này và không quay đầu đi trong những năm gian nan nhất.
Chùa Am nhỏ hơn nhiều ngôi chùa nổi tiếng ở Việt Nam. Nhưng nó mang theo một câu chuyện không nhỏ. Câu chuyện về người phụ nữ hiểu rằng giữ đất và giữ người quan trọng hơn giữ của, và câu chuyện về cộng đồng đã chọn xây một ngôi chùa để nhớ bà, thay vì để bà rơi vào quên lãng.