Chuyen.AIPlaylist
Hà Tĩnh

Khu di tích Đại thi hào Nguyễn Du

0:000:00

Trăm năm trong cõi người ta, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.

Câu thơ mở đầu Truyện Kiều. Cả nhà chắc đều thuộc. Nhưng khi đứng ở đây, tại mảnh đất Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, ta sẽ hiểu thêm một lớp ý nghĩa nữa. Vì Nguyễn Du không chỉ viết về mệnh vận con người nói chung. Ông viết từ chính cuộc đời ông, một cuộc đời đầy biến động, mất mát và thăng trầm.

Hôm nay cả nhà đang đứng tại Khu di tích Đại thi hào Nguyễn Du, di tích quốc gia đặc biệt, trên mảnh đất Tiên Điền, quê hương của ông.

Năm hai nghìn không trăm mười ba, tại kỳ họp thứ ba mươi bảy Đại hội đồng UNESCO ở Paris, Nguyễn Du được vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới. Dịp vinh danh gắn với kỷ niệm hai trăm năm mươi năm ngày sinh của ông, từ năm hai nghìn không trăm mười bốn đến hai nghìn không trăm mười lăm.

Khu di tích này không chỉ gắn với Nguyễn Du mà còn với cả dòng họ Nguyễn Tiên Điền, một gia tộc khoa bảng nổi tiếng nhất vùng Nghệ Tĩnh qua nhiều thế hệ. Cha ông là Nguyễn Nghiễm, đỗ Hoàng giáp năm một nghìn bảy trăm ba mươi mốt, làm quan đến chức Tham Tụng dưới triều Lê, tức chức quan cao nhất dưới vua. Năm một nghìn bảy trăm ba mươi lăm, Nguyễn Nghiễm xây Nhà Văn thánh Bình văn trong vườn dòng họ, làm nơi truyền học phong cho con em.

Nguyễn Du sinh năm một nghìn bảy trăm sáu mươi lăm tại Thăng Long. Tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên. Cha quê Tiên Điền, mẹ là người Kinh Bắc. Lên mười tuổi mồ côi cha, lên mười ba tuổi mồ côi mẹ.

Những năm một nghìn bảy trăm tám mươi chín đến một nghìn tám trăm linh hai là giai đoạn khó nhất: nhà Lê sụp đổ, triều Tây Sơn nổi lên, Nguyễn Du sống ẩn dật, lang thang, nghèo khó và bệnh tật. Chính những năm tháng đó đã hun đúc nên chiều sâu nhân đạo trong thơ văn của ông. Khi đọc Truyện Kiều, ta đọc được những dòng của một người đã thực sự biết đau là gì.

Năm một nghìn tám trăm linh hai, ông ra làm quan triều Nguyễn. Năm một nghìn tám trăm mười ba đến một nghìn tám trăm mười bốn, ông được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh. Hành trình đó để lại tập thơ chữ Hán Bắc hành tạp lục một trăm ba mươi mốt bài.

Ông mất ngày mười tháng tám năm Canh Thìn, tức ngày mười tám tháng chín năm một nghìn tám trăm hai mươi tại Huế, vì dịch tả trong một trận đại dịch cướp đi hơn hai trăm nghìn sinh mạng. Ông mất khi mới năm mươi tư tuổi, chưa kịp hoàn thành sứ mệnh sang nhà Thanh báo tang vua Gia Long.

Bốn năm sau, năm một nghìn tám trăm hai mươi bốn, người con trai Nguyễn Ngũ đi Huế xin đưa hài cốt cha về quê. Hài cốt qua nhiều lần di chuyển, cuối cùng được an táng tại cánh đồng Cùng, Tiên Điền. Cùng năm đó, nhà thờ Nguyễn Du được lập trong vườn nhà cũ của ông.

Nhà Văn thánh Bình văn là nơi đầu tiên cả nhà đặt chân đến. Đây là công trình do cha Nguyễn Du lập năm một nghìn bảy trăm ba mươi lăm, nơi tôn thờ đạo học và tổ chức bình văn cho con em dòng họ và làng xã. Đây là bằng chứng vật chất về truyền thống học hành nhiều đời của gia tộc này.

Nhà thờ Nguyễn Du là điểm trọng tâm. Kiến trúc kiểu chữ Đinh, thượng điện và hạ điện nối nhau. Bên trong có bài vị bằng đá khắc tên hiệu, tuổi và tước vị của ông. Hai bức đại tự trong nhà thờ là những tặng phẩm từ quan chức nhà Thanh gửi tặng dòng họ Nguyễn Tiên Điền, minh chứng cho uy tín của gia tộc này không chỉ trong nước.

Nhà trưng bày lưu giữ gần một nghìn hiện vật và tài liệu về Nguyễn Du và dòng họ. Không gian chia theo ba chủ đề: quê hương và gia tộc, cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Du, ảnh hưởng của ông với văn đàn Việt Nam và thế giới. Ở đây cả nhà có thể thấy bản Truyện Kiều in từ bản khắc gỗ năm một nghìn tám trăm sáu mươi sáu, và nghiên bút từng gắn với cuộc đời sáng tác của ông. Có cả cuộn thư pháp chép toàn bộ ba nghìn hai trăm năm mươi tư câu Kiều, được ghi nhận là dài nhất Việt Nam.

Điểm cuối và cũng là điểm cảm xúc nhất là lăng mộ tại cánh đồng Cùng. Ngôi mộ hướng chính Tây, hình chữ nhật, cao hơn một mét, rộng một mét ba mươi, dài hai mét ba mươi. Bia đá khắc: "Danh nhân văn hóa thế giới - Đại thi hào Nguyễn Du."

Khi đứng ở đây, cả nhà nhớ rằng người nằm dưới đất này đã viết Truyện Kiều. Ba nghìn hai trăm năm mươi bốn câu thơ lục bát. Được dịch ra hơn hai mươi ngôn ngữ. Được UNESCO vinh danh là di sản của toàn nhân loại.

Và tên gốc của tác phẩm ấy là Đoạn trường tân thanh: Tiếng kêu mới của nỗi đau đứt ruột.

Đó là tựa đề một người đặt cho tác phẩm của mình sau khi đã sống qua đủ mọi tầng của đau khổ, mất mát và tình người. Nó không phải tên đặt cho văn chương. Nó là tên đặt cho một cái hiểu về cuộc đời.

Cả nhà đang đứng ở nơi câu chuyện đó bắt đầu.

Câu chuyện gần đây