Khu di tích Tổng Bí thư Trần Phú
Hai mươi bảy tuổi. Đó là tuổi Trần Phú qua đời vào ngày sáu tháng chín năm một nghìn chín trăm ba mươi mốt. Trước đó chưa đầy một năm, năm hai mươi sáu tuổi, ông được bầu làm Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cuộc đời hai mươi bảy năm. Nhưng những gì ông để lại vẫn còn đây. Hôm nay cả nhà mình đang đứng tại Khu di tích Tổng Bí thư Trần Phú, ở vùng Tùng Ảnh, nay là xã Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Trần Phú sinh ngày một tháng năm năm một nghìn chín trăm linh bốn tại thôn An Thổ, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Cha mẹ ông người Hà Tĩnh, nguyên quán xã Tùng Ảnh, Đức Thọ. Thân phụ là ông Trần Văn Phổ, thân mẫu là bà Hoàng Thị Cát.
Năm một nghìn chín trăm hai mươi hai, sau khi đỗ đầu kỳ thi Thành Chung do Trường Quốc học Huế tổ chức, Trần Phú được phân về dạy học tại Trường Tiểu học Cao Xuân Dục ở Vinh. Ông dạy học ba năm ở đó trước khi dấn thân vào con đường cách mạng.
Năm một nghìn chín trăm hai mươi lăm, ông tham gia sáng lập Hội Phục Việt, tổ chức về sau đổi tên thành Hội Hưng Nam, rồi Tân Việt Cách mạng Đảng. Năm một nghìn chín trăm hai mươi sáu, ông sang Quảng Châu gặp Nguyễn Ái Quốc và gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm một nghìn chín trăm hai mươi bảy, ông học tại Trường Đại học Phương Đông ở Moskva. Năm một nghìn chín trăm hai mươi tám, ông dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ sáu.
Tháng bảy năm một nghìn chín trăm ba mươi, Trần Phú về nước và được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời. Ông được giao dự thảo Luận cương chính trị của Đảng. Tháng mười năm một nghìn chín trăm ba mươi, Luận cương được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương thông qua. Tại hội nghị đó, Trần Phú được bầu làm Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng. Ông hai mươi sáu tuổi.
Bảy tháng sau, ngày mười tám tháng tư năm một nghìn chín trăm ba mươi mốt, Trần Phú bị mật thám Pháp bắt tại Sài Gòn. Ông bị giam cầm và tra tấn. Ngày sáu tháng chín năm một nghìn chín trăm ba mươi mốt, ông qua đời tại Nhà thương Chợ Quán. Hai mươi bảy tuổi.
Câu nhắn nhủ cuối đời của ông, được Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và Báo Hà Tĩnh ghi lại: "Hãy giữ vững chí khí chiến đấu."
Đó không phải khẩu hiệu. Đó là lời của một người biết mình sắp mất, gửi lại cho những người còn sống.
Ngày mười hai tháng một năm một nghìn chín trăm chín mươi chín, hài cốt của ông được di dời từ thành phố Hồ Chí Minh về quê hương Đức Thọ, Hà Tĩnh. Khu mộ nằm trên núi Quần Hội, nhìn ra bến Tam Soa, nơi ba dòng Ngàn Sâu, Ngàn Phố và sông La gặp nhau.
Khu di tích có hai phần, cách nhau hơn một kilômét. Phần thứ nhất là khu mộ. Phần thứ hai là khu lưu niệm gồm nhà thờ tiểu chi họ Trần và nhà trưng bày.
Nhà thờ họ Trần do cụ Trần Viết Tân, cố nội của Trần Phú, xây dựng năm một nghìn tám trăm sáu mươi hai. Đây là công trình gia đình có trước cả khi Trần Phú ra đời. Nhà trưng bày được xây dựng năm một nghìn chín trăm chín mươi tám, lưu giữ tài liệu và hiện vật về gia đình, thời học và dạy học, hoạt động cách mạng và sự hy sinh của ông. Những hiện vật như con dấu Hội Hưng Nam, gia phả họ Trần Tùng Ảnh và chiếc rương gỗ Trần Phú dùng khi dạy học ở Vinh giúp câu chuyện về ông không trừu tượng mà gần gũi, cụ thể.
Khu di tích Tổng Bí thư Trần Phú được nhắc đến như "địa chỉ đỏ" giáo dục truyền thống cách mạng. Nhiều trường học, tổ chức thanh niên đến đây kết nạp, báo công. Nhưng dù đến với tư cách nào, cả nhà đều đang đến gặp câu chuyện của một con người. Một người sinh ở Phú Yên, gốc Hà Tĩnh, dạy học ở Vinh, học tập ở Moskva, và qua đời ở tuổi hai mươi bảy với một câu nhắn nhủ về chí khí.
Ba không gian của di tích, phần mộ, nhà thờ họ và nhà trưng bày, cùng giúp ta hiểu ông không chỉ là một tên tuổi trong sách sử. Ông là một người có gia đình, quê hương, tuổi trẻ, lý tưởng và sự hy sinh.