Chùa Bút Tháp
Cả nhà đang đứng tại Chùa Bút Tháp, tên chữ là Ninh Phúc tự. Không phải ngôi chùa này chỉ nổi tiếng vì đẹp. Nó nổi tiếng vì là một trong những kho chứa nghệ thuật Phật giáo đặc sắc nhất còn lại từ thế kỷ mười bảy ở miền Bắc Việt Nam.
Chùa tọa lạc sát bờ Nam sông Đuống, thuộc vùng Kinh Bắc, cách trung tâm Hà Nội khoảng ba mươi cây số và cách chùa Dâu khoảng ba cây số. Năm hai nghìn không trăm mười ba, Thủ tướng Chính phủ xếp hạng chùa là Di tích quốc gia đặc biệt.
Lịch sử của chùa trải qua nhiều lớp. Theo hồ sơ của Cục Di sản văn hóa, chùa được xây dựng từ rất sớm. Dưới thời Trần, Thiền sư Huyền Quang từng tu sửa và trụ trì tại đây. Sau đó chùa gắn với Thiền sư Chuyết Chuyết, tổ thứ ba mươi tư của Thiền phái Lâm Tế. Giai đoạn quan trọng nhất tạo nên hình hài chùa như ngày nay là khoảng từ năm một nghìn sáu trăm bốn mươi hai đến năm một nghìn sáu trăm bảy mươi tư, khi các quý tộc triều Lê cho dựng lại chùa quy mô lớn theo kiểu trăm gian với mặt bằng nội Công ngoại Quốc. Đây là kiểu bố cục kiến trúc mà các hạng mục chính nằm trên trục từ trước ra sau, hai dãy hành lang ôm lấy khu trung tâm.
Khi đi từ tam quan vào bên trong, cả nhà đi theo trục đó. Gác chuông hai tầng tám mái treo chuông mang tên Ninh Phúc tự chung, cao một trăm năm mươi hai xăng-ti-mét, đường kính miệng bảy mươi mốt xăng-ti-mét, với bốn núm ghi Xuân Hạ Thu Đông. Tiền đường năm gian hai chái với cửa bức bàn, ván trổ hoa văn chữ Vạn và chạm rồng hoa lá mang phong cách thế kỷ mười bảy.
Tại thiêu hương, là không gian nối tiền đường với thượng điện, trên xà có treo đại tự khắc Đại hùng bảo điện, làm năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Dương Hòa thứ tám, tức năm một nghìn sáu trăm bốn mươi hai. Dừng ở thượng điện, cả nhà chú ý hệ khung gỗ lim với hai mươi tư cột lớn và đặc biệt là dải lan can đá chạm khắc quanh thượng điện, với các đề tài tứ linh, tứ quý, cá hóa rồng, tùng trúc và nhiều điển tích. Đây là phần điêu khắc thể hiện tay nghề tinh xảo của nghệ nhân thế kỷ mười bảy.
Điểm dừng đáng nhớ nhất với nhiều khách là Tích Thiện am. Công trình này được Cục Di sản văn hóa mô tả là kiến trúc đặc biệt nhất của chùa. Bên trong có tòa Cửu phẩm liên hoa hình bát giác, chín tầng, cao bảy phẩy tám mét. Đây là một tòa tháp gỗ có thể quay, đặt các phù điêu Phật giáo trên mỗi tầng. Vừa là kiến trúc, vừa là tác phẩm điêu khắc, vừa là pháp khí biểu hiện các tầng bậc tu tập trong Phật giáo.
Hai dãy hành lang chạy dọc hai bên khu kiến trúc chính, mỗi dãy hai mươi sáu gian, dài bảy mươi mét và rộng bốn mét theo tư liệu Cục Di sản văn hóa. Phía sau là Tòa Tổ đệ Nhất, nơi thờ Thiền sư Chuyết Chuyết, và khu tháp trong đó có tháp Báo Nghiêm. Phía trước Tòa Tổ có giếng đá.
Chùa Bút Tháp lưu giữ bốn bảo vật quốc gia. Tượng Phật nghìn mắt nghìn tay được công nhận bảo vật quốc gia ngày mồng một tháng mười hai năm hai nghìn không trăm mười hai. Bộ tượng Phật Tam thế, hương án và tòa Cửu phẩm liên hoa được công nhận ngày ba mươi mốt tháng mười hai năm hai nghìn không trăm hai mươi. Bốn hiện vật này không chỉ là đồ thờ mà là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị hàng đầu của Phật giáo Việt Nam.
Hãy đứng lặng một lúc trước những bảo vật này. Trước nghìn cánh tay vươn ra như những vành hào quang, trước tòa sen gỗ chín tầng lặng lẽ chờ một vòng quay. Để cái tĩnh của gỗ, của đá, của trầm hương thấm vào lòng mình.
Trước khi rời, cả nhà hãy nhìn lại một lần từ sân chùa. Trong gần bốn thế kỷ, ngôi chùa này đã giữ nguyên nhiều phần quan trọng của kiến trúc và hiện vật từ thời Lê Trung Hưng, qua chiến tranh, qua bao biến đổi của lịch sử. Mái cong tám đầu đao của gác chuông vẫn in lên nền trời Kinh Bắc. Bên kia bờ tre xanh là dòng sông Đuống lặng lẽ trôi như nó đã trôi từ thuở các nghệ nhân đầu tiên đặt nhát đục lên đá. Đứng ở đây, cả nhà như chạm được vào một thế giới vẫn đang thở, vẫn đang đợi mình ghé lại.