Chuyen.AIPlaylist
Bắc Ninh

Chùa Dâu

0:000:00

Chùa Dâu không bắt đầu từ thế kỷ mười bảy hay thế kỷ mười. Theo hồ sơ của Cục Di sản văn hóa, chùa được khởi dựng ở vùng Dâu vào thế kỷ thứ hai đầu Công nguyên, trong bối cảnh Sĩ Nhiếp làm Thái thú Giao Châu. Cục Di sản văn hóa xác định đây là trung tâm Phật giáo đầu tiên của nước ta.

Để đặt điều đó vào ngữ cảnh: thế kỷ thứ hai có nghĩa là hơn một nghìn tám trăm năm trước. Và ngôi chùa vẫn ở đây, vẫn đang hoạt động.

Chùa có nhiều tên gọi. Cục Di sản văn hóa ghi các tên Cổ Châu tự, Diên Ứng tự, Pháp Vân tự, Thiền Định tự và chùa Bà Dâu. Năm hai nghìn không trăm mười ba, chùa được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Khi bước vào sân chùa, vật đầu tiên cả nhà chú ý là tháp Hòa Phong đứng giữa sân. Tháp hiện còn ba tầng, xây bằng gạch nung, cao mười lăm mét. Hồ sơ di sản ghi theo thư tịch cổ, thời Trần, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi từng trùng tu chùa và xây tháp cao chín tầng. Tuy nhiên kiến trúc tháp hiện còn được Cục Di sản xác định thuộc thời Lê Trung Hưng. Đây là ví dụ điển hình để hiểu di tích: câu chuyện lịch sử và kiến trúc thực tế không phải lúc nào cũng là một.

Trước tam cấp cửa phía Tây có hai tượng sóc đá. Bên trái có tượng cừu đá mà Cục Di sản văn hóa mô tả là dấu ấn văn hóa phương Bắc, liên hệ với sự hiện diện của Sĩ Nhiếp ở Luy Lâu. Đây là những hiện vật hiếm gặp trong chùa Việt, cho thấy vùng Dâu từng là nơi giao thoa văn hóa đặc biệt.

Vào tiền đường, cả nhà quan sát thành bậc đá chạm rồng ở gian chính giữa. Cục Di sản văn hóa ghi đây mang phong cách nghệ thuật thời Trần, một lớp niên đại khác chồng lên kiến trúc chính của chùa.

Qua thiêu hương với các ban thờ Thập điện Diêm Vương, Mạc Đĩnh Chi và Thái tử Kỳ Đà, cả nhà bước vào thượng điện, nơi ẩn chứa điều đặc biệt nhất của Chùa Dâu.

Thượng điện thờ Đại Thánh Pháp Vân Phật, cùng Bà Trắng, Bà Đỏ, Thạch Quang Phật và Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn. Tứ Pháp là gì? Theo Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, tín ngưỡng Tứ Pháp của vùng Luy Lâu gắn bốn vị Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện tương ứng với mây, mưa, sấm, chớp, những yếu tố sống còn với cư dân nông nghiệp. Khi Phật giáo du nhập từ Ấn Độ vào vùng đất này, nó không xóa đi tín ngưỡng bản địa, mà hòa nhập vào đó. Kết quả là một lớp tâm linh riêng của vùng Dâu, không hoàn toàn giống với Phật giáo Ấn Độ gốc hay Phật giáo Trung Hoa.

Truyền thuyết Man Nương và Khâu Đà La lý giải cách tứ tượng ra đời, theo ghi chép dân gian. Cả nhà nghe như nghe một câu chuyện cộng đồng truyền miệng, không phải biên niên sử có kiểm chứng khảo cổ học đầy đủ.

Đi dọc hai dãy hành lang, phần phía sau là nơi thờ mười tám vị La Hán. Vườn tháp bên ngoài hiện còn tám tháp gạch, niên đại từ thời Lê đến thời Nguyễn, của các nhà sư từng tu tại chùa.

Mộc bản chùa Dâu gồm một trăm lẻ bảy ván khắc, niên đại từ năm một nghìn bảy trăm năm mươi hai đến năm một nghìn tám trăm năm mươi chín, là Bảo vật quốc gia từ năm hai nghìn không trăm hai mươi tư. Đây là bộ mộc bản lưu trữ kinh Phật, nghi lễ và thông tin về tín ngưỡng Tứ Pháp. Bộ tượng Phật Tứ Pháp vùng Dâu cũng là Bảo vật quốc gia từ năm hai nghìn không trăm mười bảy.

Hội Dâu diễn ra vào ngày mùng tám tháng tư âm lịch hàng năm. Khắp vùng Luy Lâu xưa, người ta rước kiệu, dâng hương, và gặp lại nhau dưới bóng tháp Hòa Phong như đã làm suốt hàng trăm năm qua.

Chùa Dâu không phải nơi đến một lần là hiểu hết. Mỗi lần quay lại, người ta thường thấy thêm một lớp ý nghĩa mới: lớp khảo cổ của gạch nung cổ nhất, lớp điêu khắc của bậc đá thời Trần, lớp tín ngưỡng của Tứ Pháp bản địa, lớp văn bản của một trăm lẻ bảy ván khắc mộc bản. Ngôi chùa này không phải là một điểm chụp ảnh. Đây là một tài liệu bằng gạch đá và gỗ về hơn mười tám thế kỷ của Phật giáo Việt Nam.

Câu chuyện gần đây