Khu di tích Phố Hiến
Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến.
Câu nói đó đã đi qua nhiều thế kỷ. Kinh kỳ là Thăng Long, tức Hà Nội ngày nay. Phố Hiến là nơi cả nhà đang đứng, thuộc tỉnh Hưng Yên. Câu ấy không phải một phép cân đo hơn kém. Đó là cách ông bà mình nói rằng sau Thăng Long, đây là đô thị phồn hoa nhất đất nước trong một giai đoạn lịch sử cụ thể.
Giai đoạn đó là từ cuối thế kỷ mười sáu đến thế kỷ mười bảy, mười tám. Phố Hiến khi đó là thương cảng nằm dọc tả ngạn sông Hồng. Sông Hồng là đường huyết mạch. Hàng hóa từ nội địa đổ ra, và tàu thuyền từ biển đi vào. Thương nhân đến, cộng đồng hình thành, ngôi chùa mọc lên, hội quán được dựng, đền miếu xây theo. Đó là cách một thương cảng tạo nên một đô thị.
Phố Hiến đầu thế kỷ mười bảy từng được người ta ví là tiểu Tràng An của bốn phương, nghĩa là một kinh thành thu nhỏ, nơi người bốn phương cùng tìm về. Nơi đây vừa là một thương cảng sầm uất, vừa là một đô thị phồn hoa. Ngày ba mươi mốt tháng Mười Hai năm hai nghìn không trăm mười bốn, Thủ tướng Chính phủ đã xếp hạng toàn bộ Khu di tích Phố Hiến là Di tích quốc gia đặc biệt, hạng cao nhất trong ba hạng mà nước ta xếp cho các di tích.
Điều đặc biệt của Khu di tích Phố Hiến là giá trị không nằm trong một công trình đơn lẻ. Khu di tích quốc gia đặc biệt này gồm tới mười sáu di tích thành phần. Có Văn Miếu Xích Đằng, đền Mây và chùa Chuông. Có đền Mẫu, đền Trần, đình và chùa Hiến. Có Đông Đô Quảng Hội, đền Thiên Hậu, đền Bà Chúa Kho và đình An Vũ. Có đền Kim Đằng, đền Cửu Thiên Huyền Nữ, võ miếu và chùa Phố. Và có đền Nam Hòa cùng chùa Nễ Châu. Mỗi điểm là một mảnh ghép của bức tranh Phố Hiến.
Khi đi qua từng điểm, cả nhà sẽ thấy các lớp văn hóa đan xen trong không gian nhỏ của một đô thị cổ. Hãy thử bóc từng lớp một.
Lớp thứ nhất là Nho học. Văn Miếu Xích Đằng là nơi tự nhiên nhất để bắt đầu câu chuyện về truyền thống hiếu học và khoa bảng của vùng đất Hưng Yên. Trong không gian thương cảng, tầng lớp nho sĩ vẫn có vị trí và tiếng nói. Văn miếu là bằng chứng của điều đó.
Lớp thứ hai là Phật giáo. Chùa Chuông, tên chữ Kim Chung tự, là một trong những di tích Phật giáo tiêu biểu của Phố Hiến. Ngôi chùa được dựng theo lối kiến trúc "Nội công ngoại quốc" và "Tứ thủy quy đường". Chùa còn có hệ tượng phong phú gồm Thập Bát La Hán, Thập Điện Diêm Vương, Tứ Trấn và Bát Bộ Kim Cương. Một ngôi chùa như vậy trong không gian thương cảng nói lên rằng đây không phải chỉ là nơi buôn bán, mà là nơi người ta sống, tín ngưỡng và gìn giữ tâm hồn.
Lớp thứ ba là tín ngưỡng dân gian. Đền Mẫu và đền Trần là nơi thờ các nhân vật gắn với tín ngưỡng Việt trong không gian đô thị cổ. Trong tiếng vọng của những mái đền xưa, người ta vẫn nhận ra hơi thở của một cộng đồng đã sống và tin tưởng nơi đây qua bao thế hệ.
Lớp thứ tư là dấu vết giao thoa văn hóa. Đây là lớp thú vị nhất và đặc trưng nhất của Phố Hiến. Đông Đô Quảng Hội và đền Thiên Hậu là những điểm gắn với cộng đồng thương nhân và cư dân người Hoa đã từng sinh sống và buôn bán tại Phố Hiến. Trong một thương cảng có người Việt, người Hoa, người nước ngoài cùng qua lại, điều tự nhiên là mỗi cộng đồng để lại dấu ấn riêng trong không gian thờ tự và sinh hoạt cộng đồng.
Khi cả nhà đứng trước Đông Đô Quảng Hội hay đền Thiên Hậu, hãy nhớ rằng đây không phải những công trình "ngoại nhập" tách biệt với không gian Việt. Đây là dấu vết của một giai đoạn lịch sử khi Phố Hiến thực sự là nơi nhiều luồng văn hóa gặp nhau trên nền tảng sông nước và giao thương.
Lớp thứ năm là sinh hoạt cư trú và làng xã. Các đình, chùa như đình và chùa Hiến, đình An Vũ, chùa Nễ Châu hay chùa Phố không chỉ là công trình thờ tự. Chúng là trung tâm sinh hoạt cộng đồng của các làng, phường, khu phố trong cấu trúc đô thị xưa. Phố Hiến không chỉ là thương cảng mà còn là nơi người ta sinh sống, đặt tên đường phố, lập phường hội và xây dựng cộng đồng.
Hình ảnh cả nhà mang về từ Phố Hiến là hình ảnh của một thương cảng đã từng phồn hoa nhất nhì đất nước, nơi nhiều cộng đồng cùng sống, cùng thờ tự và cùng dựng nên một đô thị ven sông. Mái đền cong vút trên nền trời, tiếng chuông chùa vọng qua khoảng sân rêu phong, và dòng sông Hồng vẫn chảy lặng lẽ ngoài kia như chưa từng quên những con tàu viễn dương một thời neo đậu nơi này.