Chùa Trấn Quốc
Một tấm bia đá dựng từ năm một nghìn sáu trăm ba mươi chín vẫn đứng lặng trong chùa Trấn Quốc, trên hòn đảo nhỏ phía đông Hồ Tây. Bài văn khắc trên bia do Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính soạn, kể về những năm chùa được tu sửa, mở mang. Đó là tấm bia cổ nhất và quý nhất trong mười bốn tấm bia mà chùa còn giữ đến hôm nay.
Mười bốn tấm bia, như mười bốn trang sách bằng đá. Nhưng câu chuyện của ngôi chùa bắt đầu từ rất lâu trước trang đầu tiên, khi chùa còn chưa ở trên hòn đảo này.
Năm năm trăm bốn mươi bốn, Lý Bí lên ngôi hoàng đế, người đời sau gọi ông là Lý Nam Đế. Ông đặt tên nước là Vạn Xuân, với mong ước đất nước mãi được nối tiếp, trường tồn. Vị vua ấy cho dựng một ngôi chùa lớn ở Yên Phụ, trên một bãi đất cạnh sông Hồng, và đặt tên là Khai Quốc, nghĩa là mở nước. Từ ngày khởi dựng ấy đến nay đã gần mười lăm thế kỷ.
Chùa hôm nay đã qua nhiều lần dựng lại, tu sửa qua bao đời. Thời Lý và thời Trần, chùa là trung tâm Phật giáo của kinh thành Thăng Long.
Tên chùa cũng đổi theo năm tháng. Thế kỷ mười lăm, chùa mang tên An Quốc, nghĩa là đất nước yên bình. Rồi năm một nghìn sáu trăm mười lăm, bãi sông bị lở. Người ta dời chùa vào phía trong đê Yên Phụ, về hòn đảo nhỏ giữa hồ mà người xưa gọi là Kim Ngư, tức là đảo Cá Vàng.
Hòn đảo ấy không phải một mảnh đất vô danh. Các vua nhà Lý từng dựng cung Thúy Hoa ở đây, các vua nhà Trần cũng từng dựng một tòa điện ở đây.
Chùa vừa yên chỗ mới, người ta lại tu sửa, mở mang nó thêm nhiều lần. Tấm bia năm một nghìn sáu trăm ba mươi chín ra đời từ chính những năm tháng ấy. Cuối thế kỷ mười bảy, dưới thời vua Lê Hy Tông, chùa nhận cái tên Trấn Quốc, nghĩa là trấn giữ đất nước. Đó là cái tên cả nhà vẫn gọi đến tận hôm nay.
Gần hai thế kỷ sau tấm bia cổ nhất ấy, một trang sách đá mới được khắc. Từ năm một nghìn tám trăm mười ba đến năm một nghìn tám trăm mười lăm, chùa được trùng tu lớn. Tiến sĩ Phạm Quý Thích soạn bài văn bia ghi lại công việc ấy. Bài văn kể rằng việc làm trước hết là nhà thờ Phật, nhà thắp hương và Tiền đường, cả thảy ba tòa.
Năm một nghìn tám trăm bốn mươi hai, vua Thiệu Trị ra thăm chùa, ban tiền để tu sửa, và đổi tên chùa thành Trấn Bắc. Nhưng người dân quanh hồ đã quen miệng mất rồi. Họ cứ gọi là chùa Trấn Quốc. Cái tên ấy ở lại đến bây giờ.
Bước vào chùa hôm nay, ba ngôi nhà chính nối tiếp nhau: Tiền đường ở phía trước, rồi nhà thiêu hương, rồi thượng điện. Tiền đường quay mặt về hướng tây. Phía sau thượng điện là gác chuông. Bên phải là nhà tổ, bên trái là nhà bia, nơi lưu giữ những trang sách bằng đá.
Trong chùa có một pho tượng rất đặc biệt: tượng Phật Thích Ca nhập Niết bàn, bằng gỗ sơn son thếp vàng. Đức Phật nằm nghiêng, an nhiên, như đang nghỉ một giấc thật êm.
Những trang sách mới của chùa vẫn tiếp tục được viết, chỉ là không còn khắc trên đá nữa. Tháng ba năm một nghìn chín trăm năm mươi chín, Tổng thống Ấn Độ Rajendra Prasad đến thăm Hà Nội và tặng một cây bồ đề, được trồng ngay tại chùa. Cây ấy được chiết từ cây bồ đề gốc ở Bồ Đề Đạo Tràng, tức Bodh Gaya, nơi Đức Phật Thích Ca ngồi thiền và thành đạo. Một nhánh của cây thiêng nơi đất Phật xa xôi giờ đã thành bóng mát giữa Hồ Tây.
Cũng trong năm ấy, con đường nằm giữa Hồ Tây và hồ Trúc Bạch, dẫn ra hòn đảo, vốn mang tên đường Cổ Ngư, được đổi tên thành đường Thanh Niên.
Rồi từ năm một nghìn chín trăm chín mươi tám đến năm hai nghìn lẻ ba, Bảo tháp Lục độ đài sen được dựng lên. Tháp cao mười lăm mét, gồm mười một tầng, mỗi tầng hình lục giác. Mỗi tầng mở sáu cửa vòm, trong mỗi cửa là một pho tượng Phật A Di Đà bằng đá quý. Mười một tầng, mỗi tầng sáu pho, vị chi sáu mươi sáu pho tượng. Trên đỉnh tháp đặt Cửu phẩm Liên hoa, một đài sen chín tầng.
Bảo tháp và cây bồ đề đứng cân xứng với nhau. Đóa sen nói về cái tâm trong sạch, còn cây bồ đề nói về trí tuệ. Đứng dưới chân tháp, các bạn nhỏ có thể ngước mắt lên, đếm từng tầng một, từ dưới lên tận đóa sen trên đỉnh.
Trong khuôn viên chùa còn có một vườn tháp với nhiều ngôi tháp cổ, có những tháp đã đứng đó từ thế kỷ mười tám.
Ngày nay, báo chí bên nước Anh còn xếp Trấn Quốc vào hàng những ngôi chùa đẹp nhất thế giới. Giá như người xưa còn dựng bia, có lẽ dòng chữ ấy cũng xứng được khắc vào đá.
Chiều xuống trên Hồ Tây. Mười bốn trang sách bằng đá trong chùa đã kể xong phần của mình. Còn trên cây bồ đề từ đất Phật xa xôi, gió hồ khẽ lay từng chiếc lá, như ai đang lật sang một trang mới.