Thành phố Đà Lạt
Cả nhà thử tưởng tượng một thành phố mà không khí buổi sáng mát như sương, rừng thông mọc ngay trong lòng phố, và mỗi góc đường đều có thể bắt gặp hoa. Nơi đó không phải ở đâu xa, mà chính là Đà Lạt, thành phố cao nguyên mà cả nhà chúng ta đang chuẩn bị khám phá hôm nay.
Đà Lạt thuộc tỉnh Lâm Đồng, nằm trên cao nguyên Lâm Viên ở độ cao trung bình khoảng một nghìn năm trăm mét so với mực nước biển. Chính độ cao này tạo ra khí hậu đặc biệt: nhiệt độ mát quanh năm, ban đêm có thể khá lạnh, và mùa mưa từ tháng tư đến tháng mười một đem lại sương, mưa bụi và màu xanh dày của rừng. Nếu ai trong cả nhà cảm thấy ngạc nhiên vì trời mát dù đang ở vĩ độ nhiệt đới, thì lý do chính là chiều cao của mảnh đất này.
Câu chuyện Đà Lạt hiện đại thường được nhắc từ năm một nghìn tám trăm chín mươi ba, khi bác sĩ người Pháp Alexandre Yersin đặt chân lên cao nguyên Lâm Viên. Yersin là người đã khám phá và đề xuất chọn vùng cao nguyên này làm nơi nghỉ dưỡng, sau khi Toàn quyền Paul Doumer tìm kiếm một địa điểm vùng cao phù hợp cho người Pháp. Từ đó, một đô thị dần được quy hoạch, mọc lên giữa rừng thông, với hồ, đường sá, khách sạn, trường học và nhà ga. Năm một nghìn chín trăm mười sáu, một dụ chính thức thành lập thị tứ Đà Lạt; năm một nghìn chín trăm hai mươi, một nghị định thành lập thị xã Đà Lạt. Từ một cao nguyên hoang sơ của người Cơ Ho, Lạch, Chil, Srê, vùng đất này trở thành một đô thị nghỉ dưỡng mang dấu ấn kiến trúc Pháp rõ nét.
Đà Lạt có nhiều lớp câu chuyện. Hãy bắt đầu từ hồ Xuân Hương, trung tâm cảnh quan của thành phố.
Hồ Xuân Hương không phải hồ tự nhiên. Theo Địa chí Đà Lạt, khu vực này vốn là thung lũng có suối Cam Ly chảy qua. Năm một nghìn chín trăm mười chín, người Pháp cho ngăn dòng suối để tạo hồ, rồi tiếp tục sửa chữa, đắp đập qua nhiều lần. Hồ ngày nay được gọi là Hồ Xuân Hương từ năm một nghìn chín trăm năm mươi ba, khi người ta đề nghị đổi tên từ Grand Lac sang tên Việt. Khi đứng ven hồ, cả nhà sẽ thấy mặt nước mở rộng ngay giữa trung tâm thành phố, và phía kia bờ là Quảng trường Lâm Viên.
Quảng trường Lâm Viên rộng hơn bảy mươi hai nghìn mét vuông, hướng ra hồ Xuân Hương. Tên Lâm Viên gắn với cao nguyên Lâm Viên, tức Lang Biang, và được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua năm hai nghìn mười một. Điểm nhấn kiến trúc của quảng trường là hai khối cách điệu: một lấy cảm hứng từ hoa dã quỳ, cao hơn mười tám mét, hiện là cung nghệ thuật; một khối hình nụ hoa cao mười lăm mét, là quán cà phê. Kiến trúc sư Trần Văn Dũng, tác giả quy hoạch dự án, cho biết đây là thiết kế cách điệu biểu trưng cho hoa và nông sản Đà Lạt. Mỗi năm vào mùa Festival Hoa, khu quảng trường này trở thành sân khấu trung tâm của Đà Lạt.
Rời quảng trường, cả nhà đi qua khu chợ Đà Lạt. Đây là nơi cả nhà thấy rõ nhất vì sao người ta gọi Đà Lạt là thành phố của hoa và nông sản cao nguyên. Rau, hoa, atisô, dâu tây, trà, cà phê Arabica và vô số sản phẩm khác của vùng đất cao nguyên mát lạnh đều có mặt ở đây. Đây là biệt danh du lịch, không phải danh xưng pháp lý, nhưng khi nhìn quanh chợ, cả nhà sẽ hiểu vì sao người ta gọi nơi này là thành phố ngàn hoa.
Điểm tiếp theo mà cả nhà sẽ ghé là Nhà ga Đà Lạt, số một đường Quang Trung. Nhà ga được xây dựng trong giai đoạn một nghìn chín trăm ba mươi hai đến một nghìn chín trăm ba mươi tám, gắn với tuyến đường sắt Tháp Chàm lên Đà Lạt. Theo Địa chí Đà Lạt, kiến trúc sư Revéron thiết kế, kiến trúc sư Moncet hoàn chỉnh hồ sơ và giám sát, kỹ sư Porte trực tiếp phụ trách kỹ thuật. Nhà ga dài khoảng sáu mươi sáu mét, rộng hơn mười một mét, đại sảnh cao mười một mét. Mái ngói đỏ gấp góc, mặt bằng cân xứng và hệ cửa kính màu bên trong là những chi tiết cả nhà nên để ý. Năm hai nghìn lẻ một, nhà ga được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích Kiến trúc Quốc gia. Đứng bên trong, cả nhà như đang ở giữa một bức tranh kiến trúc thuộc địa còn nguyên vẹn hiếm gặp ở Việt Nam.
Từ đồi Robin, tuyến cáp treo dài hai nghìn hai trăm sáu mươi bảy mét đưa người lên cao trong khoảng mười hai phút để ngắm rừng thông, hồ Tuyền Lâm và địa hình đồi núi trải rộng bên dưới. Ga cuối nằm ngay khu vực Thiền viện Trúc Lâm và hồ Tuyền Lâm.
Thiền viện Trúc Lâm là một thiền viện Phật giáo tọa lạc trên đồi Phượng Hoàng bên hồ Tuyền Lâm. Thiền viện được Hòa thượng Thích Thanh Từ xây dựng từ năm một nghìn chín trăm chín mươi ba, khánh thành năm một nghìn chín trăm chín mươi bốn. Khuôn viên khoảng hai mươi bốn đến hai mươi lăm héc ta, gồm chánh điện, lầu chuông, lầu trống và vườn Tổ. Đây vừa là không gian tham quan vừa là thiền viện đang hoạt động, nên không khí bên trong rất trầm lặng và thanh tịnh.
Hồ Tuyền Lâm cách trung tâm Đà Lạt khoảng năm đến sáu cây số về phía nam, rộng khoảng ba trăm năm mươi đến ba trăm sáu mươi héc ta, nằm giữa rừng thông và các đồi núi. Năm hai nghìn mười bảy, Thủ tướng Chính phủ công nhận đây là Khu du lịch quốc gia đầu tiên của cả nước theo Quyết định hai trăm lẻ năm.
Nếu đoàn mình thích hoạt động ngoài trời, Thác Datanla là điểm cuối phù hợp. Thác nằm trên đèo Prenn, cách trung tâm khoảng năm cây số về phía nam, thác cao khoảng hai mươi mét, đổ qua các ghềnh đá xuống dòng suối bên dưới. Tên Datanla trong tiếng K'Ho là Đà-Tàm-N'ha, nghĩa là nước dưới lá. Khu du lịch quanh thác có máng trượt, zipline và canyoning cho ai thích cảm giác mạnh.
Còn một điều nữa về Đà Lạt: năm hai nghìn hai mươi ba, thành phố gia nhập Mạng lưới các thành phố sáng tạo UNESCO trong lĩnh vực âm nhạc. Đây là danh hiệu thành phố sáng tạo, gắn với di sản âm nhạc và cồng chiêng Lang Biang, và cách người Đà Lạt dùng văn hóa để phát triển bền vững hơn.
Đà Lạt hôm nay đông hơn và nhộn nhịp hơn nhiều so với thời nghỉ dưỡng thanh vắng của thế kỷ trước. Nhưng rừng thông, hồ, khí hậu và những mái ngói đỏ xưa vẫn còn đó. Buổi sáng sớm, khi sương còn giăng trên mặt hồ Xuân Hương và tiếng chuông thiền viện vang xa qua rừng thông, cả nhà sẽ hiểu vì sao người ta một lần đến Đà Lạt rồi mãi không quên.