Khu di tích Đền Đô
Cả nhà hãy thử nhớ lại một con số. Hai trăm mười bốn. Đó là số năm tám đời vua nhà Lý đã trị vì đất Đại Việt. Và cũng là số chữ khắc trên bức cuốn thư bằng gốm đứng ngay trước cửa khu di tích mà chúng ta sắp bước vào.
Đền Đô. Cổ Pháp Điện. Đền Lý Bát Đế. Ba cái tên cho một di tích, và mỗi cái tên nói lên một điều khác nhau. Đền Đô nghĩa là đền ở nơi phát tích của nhà nước. Cổ Pháp Điện là tên cũ của vùng đất Đình Bảng xưa, nơi nhà Lý nổi lên. Đền Lý Bát Đế thì rõ ràng hơn cả: tám vị vua nhà Lý, từ Lý Thái Tổ đến Lý Huệ Tông, đều được thờ phụng tại đây.
Đền nằm tại khu phố Thượng, phường Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Đây vốn là đất Đình Bảng, quê phát tích của dòng họ Lý. Năm một nghìn không trăm ba mươi, vua Lý Thái Tông cho xây đền thờ tổ tiên và các vua trước trên chính mảnh đất này. Đó là hành động vừa có ý nghĩa tâm linh, vừa có ý nghĩa chính trị, như một cách nói với trăm họ rằng: chúng ta từ đây mà ra, và chúng ta không quên điều đó.
Năm hai nghìn mười bốn, khu lăng mộ và đền thờ các vua nhà Lý được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định hai nghìn bốn trăm lẻ tám của Thủ tướng Chính phủ.
Bây giờ cả nhà hãy nhìn bức cuốn thư phía trước.
Hai trăm mười bốn chữ. Bức cuốn thư bằng gốm này được hoàn thành nhân kỷ niệm một nghìn năm Thăng Long, Hà Nội. Trên đó khắc toàn văn Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ. Đây là bản văn vị vua sáng lập triều Lý đã viết khi quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long năm một nghìn không trăm mười. Câu chuyện của Đền Đô và câu chuyện của Thăng Long, Hà Nội gắn với nhau bắt đầu từ đây.
Đi tiếp, cả nhà sẽ thấy hồ bán nguyệt.
Hồ rộng chín nghìn năm trăm mét vuông. Giữa hồ có Nhà Thủy đình. Đây là một trong những hình ảnh đẹp nhất của khu di tích, đặc biệt vào mùa lễ hội, khi hát Quan họ trên thuyền rồng vang vọng giữa mặt nước. Nhà Thủy đình Đền Đô xưa từng được in trên tờ giấy bạc năm đồng thời thuộc Pháp. Ngày nay hình ảnh này vẫn còn in trên đồng tiền kim loại một nghìn đồng. Các bạn kiểm tra ví xem, biết đâu đang cầm trong tay một kỷ vật của Đền Đô.
Bước qua Ngũ Long Môn, cổng vào nội thành với hình chạm khắc rồng trên cánh cổng, cả nhà bước vào trung tâm của khu di tích.
Phía trước là Phương đình, kiến trúc tám mái ba gian, rộng khoảng bảy mươi mét vuông. Đây là điểm nhìn tốt nhất để cảm nhận trục kiến trúc chính của Đền Đô. Tiếp đó là Tiền tế và Chuyển bồng, dẫn thẳng vào Hậu cung.
Hậu cung rộng khoảng hai trăm hai mươi mét vuông. Đây là nơi đặt ngai thờ, bài vị và tượng của tám vị vua nhà Lý. Bước vào đây là bước vào không gian trang nghiêm nhất của cả khu, nơi khói hương ngàn năm như chưa bao giờ tắt.
Tám vị vua nhà Lý đã trị vì Đại Việt từ năm một nghìn không trăm mười đến năm một nghìn hai trăm hai mươi sáu. Hai trăm mười sáu năm. Họ là những người lập quốc, mở đường, định hình cho nền văn minh Đại Việt. Văn Miếu Quốc Tử Giám ở Thăng Long, chùa Phật Tích ở Tiên Du, và nhiều công trình khác là di sản của chính triều đại này để lại. Đứng trước bài vị của tám vị vua ở đây, các bạn đang đứng trước nguồn gốc của những giá trị văn hóa vẫn còn tồn tại đến tận hôm nay.
Bên cạnh khu thờ chính là Văn chỉ và Võ chỉ. Văn chỉ thờ các vị quan văn có công với triều Lý, trong đó có Tô Hiến Thành và Lý Đạo Thành. Võ chỉ thờ các danh tướng như Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt và Đào Cam Mộc. Không triều đại nào tồn tại chỉ nhờ nhà vua. Nhà Lý vững được bởi vì có những người như Lý Thường Kiệt viết Nam quốc sơn hà, và những người như Tô Hiến Thành giữ vững kỷ cương triều chính.
Trong khuôn viên còn có giếng Ngọc và nhà lưu niệm. Giếng cổ được phát hiện khi khởi công phục dựng đền. Nhà lưu niệm lưu giữ nhiều tư liệu về Đền Đô và các vua triều Lý, mang lại cái nhìn đầy đủ hơn về một triều đại đã định hình cả một nền văn minh.
Lễ hội Đền Đô diễn ra hằng năm từ ngày mười bốn đến mười sáu tháng ba âm lịch, chính hội ngày mười lăm. Vào những ngày ấy, hồ bán nguyệt rộn tiếng Quan họ trên thuyền rồng, sân đền vang tiếng trống hội, và khắp nơi là cờ tướng, vật cổ truyền, múa rối nước Đồng Ngư. Nếu có dịp quay lại đúng ngày hội, cả nhà sẽ thấy Đền Đô không chỉ là nơi lưu giữ quá khứ mà còn là nơi quá khứ đang sống.
Hai trăm mười bốn chữ. Hai trăm mười bốn năm. Đền Đô là nơi để đứng yên một chút và nhớ rằng những gì ta đang có hôm nay đều có một điểm khởi đầu, một vùng đất, một quyết định, và những con người đã chọn dời đô về phía trước.