Hồ Tây
Có một thứ ở ngay giữa lòng Hà Nội, cách Hồ Hoàn Kiếm chỉ ba cây số, mà người ta phải đứng nhìn một lúc mới tin đó là thật: một mặt nước phẳng lặng rộng năm trăm hecta, chu vi đường ven hồ mười bảy cây số, với hơn sáu mươi di tích bao quanh.
Đó là Hồ Tây. Hồ lớn nhất Hà Nội, và cũng là một trong những không gian văn hoá - lịch sử sâu sắc nhất đất nước.
Hồ Tây không phải hồ nhân tạo. Nó là dấu vết của sông Hồng. Hàng nghìn năm trước, sông Hồng chảy qua đây. Rồi dòng sông đổi hướng, bồi lắng dần, để lại một vùng trũng lớn chứa nước. Các nhà địa chất gọi đây là hồ bồi, loại hồ hình thành từ khúc sông cũ. Hồ Tây là một khúc sông Hồng đã nghỉ ngơi từ ngàn năm.
Cái hồ này có nhiều tên, mỗi tên gắn với một thời kỳ, một câu chuyện.
Tên cổ nhất, theo sách Lĩnh Nam chích quái, là Đầm Xác Cáo. Tương truyền vùng đất này xưa có con cáo chín đuôi ẩn náu, phá hoại dân lành. Lạc Long Quân dâng nước lên công phá hang cáo, giết cáo, để lại một vùng đầm rộng. Tên đầm ra đời từ đó.
Rồi đến Hồ Kim Ngưu, nghĩa là hồ trâu vàng. Tương truyền một con trâu vàng từ phương Bắc đi tìm trâu mẹ đồng đen, lạc đường, lồng lên giẫm nát cả khu rừng, đất sụt xuống thành hồ.
Đời vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long năm một nghìn không trăm mười, hồ trở thành nơi vua và quan ưa thích đi du ngoại. Vua hay gặp sương mù dày đặc bao phủ mặt hồ, cảnh huyền ảo như trong tranh. Ông đặt tên Dâm Đàm, nghĩa là "đầm sương mù".
Rồi năm một nghìn năm trăm bảy mươi ba, vua Lê Thế Tông lên ngôi. Tên vua là Lê Duy Đàm. Chữ "Đàm" trùng với chữ "Đàm" trong tên hồ. Theo tục tránh huý, người ta phải đổi tên hồ. Và họ đổi thành Tây Hồ, nghĩa là hồ phía tây, cũng mang ý ví với Tây Hồ Hàng Châu nổi tiếng của Trung Quốc. Cái tên Tây Hồ ấy được dùng từ năm đó đến hôm nay.
Quanh hồ, qua hàng nghìn năm, người ta đã xây dựng sáu mươi bốn di tích. Hai mươi mốt trong số đó đã được xếp hạng. Những cung điện thời Lý, Trần, Lê từng đứng ven hồ nay đã thành chùa cổ và trường học. Cung Thuý Hoa thời Lý nay là khu Chùa Trấn Quốc, ngôi chùa cổ nhất Hà Nội. Cung Từ Hoa thời Lý nay là khu Chùa Kim Liên. Điện Thuỵ Chương thời Lê nay là Trường Trung học Chu Văn An.
Một điểm tâm linh quan trọng nhất ven hồ là Phủ Tây Hồ ở bán đảo Quảng An. Đây là nơi thờ Chúa Liễu Hạnh, một trong Tứ Bất Tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Bốn vị Bất Tử là Tản Viên Sơn Thánh, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử và Chúa Liễu Hạnh. Liễu Hạnh là vị Thánh Mẫu trong đạo Mẫu Tam phủ - Tứ phủ, tín ngưỡng thờ các nữ thần đặc trưng của Việt Nam. Năm hai nghìn không trăm mười sáu, UNESCO đã công nhận đạo Mẫu Việt Nam là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Phủ Tây Hồ là một trong ba phủ chính thờ Liễu Hạnh trên cả nước, cùng Phủ Giầy ở Nam Định và Phủ Sòng Sơn ở Thanh Hoá.
Hồ Tây cũng nổi tiếng với một thứ mà không nơi nào khác có được: sen Bách Diệp. Giống sen một trăm cánh xếp lớp lớp, đặc trưng và độc nhất của Hồ Tây. Từ tháng năm đến tháng bảy, các đầm sen Quảng Bá và Nhật Tân nở rộ, mặt nước phủ hồng từ bờ ra tới giữa hồ.
Sen Bách Diệp được dùng để ướp trà sen Hồ Tây, một trong những loại trà cao cấp đắt nhất Việt Nam. Quy trình ướp rất công phu: hái sen lúc năm giờ sáng khi sen vừa nở, đập lấy nhụy hoa thơm, ướp với trà, phơi sao, ủ nhiều lần. Mỗi kilogram trà cần khoảng một nghìn bông sen. Giá trà sen Hồ Tây thật có thể từ mười đến ba mươi triệu đồng một kilogram. Đắt hơn vàng tính theo gram.
Ngoài mùa sen, Hồ Tây còn có lịch hoa theo mùa. Tháng tư là mùa hoa loa kèn bán ven hồ. Tháng mười một là mùa cúc hoạ mi ở đầm Nhật Tân. Dịp Tết là đào bích và đào phai Nhật Tân, hoa Tết nổi tiếng nhất Hà Nội.
Phố đi bộ Trịnh Công Sơn dài chín trăm mét ven hồ mang tên nhạc sĩ tài hoa mà không gian Hồ Tây đã truyền cảm hứng để ông viết nên "Hà Nội mùa thu" và nhiều bài hát khác. Cuối tuần, tiếng nhạc Trịnh vang lên trên sân khấu Cầu Nghệ thuật, hoà cùng gió hồ và ánh đèn lung linh trên mặt nước.
Đạp xe quanh hồ mười bảy cây số, cả nhà sẽ lần lượt ghé qua chùa cổ, làng cổ, đầm sen, bãi đá ven sông Hồng, và những con ngõ nhỏ của người Hà Nội bản địa sống bên mặt nước. Không phải Hà Nội của bưu thiếp, mà là Hà Nội của nghìn năm còn thở.