Chuyen.AIPlaylist
Hà Tĩnh

Hoành Sơn Quan

0:000:00

Cả nhà đang leo lên những bậc đá cũ kỹ dẫn đến một cổng đá. Rêu phủ kín các viên đá. Cây xanh mọc ra từ kẽ tường. Và phía trên cổng, ba chữ Hán khắc sâu vào đá: Hoành Sơn Quan.

Đây là công trình gần hai trăm năm tuổi. Và nó vẫn đứng ở đây, trên đỉnh Đèo Ngang.

Câu chuyện bắt đầu từ năm một nghìn tám trăm ba mươi ba, năm Minh Mạng thứ mười bốn. Vua Minh Mạng ra lệnh lập cửa ải tại núi Hoành Sơn. Bảo tàng Hà Tĩnh dẫn Đại Nam thực lục cho biết triều đình điều ba trăm binh lính từ Quảng Bình và Hà Tĩnh đến xây dựng, do thự Thị lang Bộ Công Đoàn Văn Phú quản đốc. Công trình làm xong trong một tháng. Sau khi hoàn thành, một suất đội và hai mươi lính Quảng Bình được phái đến đóng giữ, mỗi tháng thay phiên một lần.

Vua Minh Mạng giải thích rõ mục đích: lập cửa ải để xét hỏi quân gian và làm đồn phân phòng. Đây không phải biên giới quốc gia theo nghĩa hiện đại. Đây là một điểm kiểm soát trên tuyến đường thiên lý Bắc Nam, nơi mọi người đi từ kinh đô Huế ra bắc hoặc từ bắc vào nam đều phải qua.

Sử liệu mô tả công trình như thế này: tường đá núi bao quanh, phía trước mở một cửa, hai bên có tường ngăn xây theo thế núi, và bên trong từng dựng trại lính ba gian. Cả nhà nhìn vào cổng đá trước mặt, nhìn vào hai bên tường, đó là những gì còn lại sau gần hai thế kỷ.

Cổng cao khoảng bốn mét. Thành dài khoảng ba mươi mét. Không lớn. Nhưng ở vị trí này, giữa núi và biển, một cổng nhỏ như vậy đủ để kiểm soát cả tuyến đường.

Đây là lý do tại sao Hoành Sơn Quan tồn tại: địa hình. Dãy Hoành Sơn là nhánh núi chạy từ Trường Sơn ra biển. Tại Đèo Ngang, núi gần biển nhất, tạo thành một khe hẹp. Không còn đường nào khác để qua. Và ở đầu khe hẹp ấy, triều Nguyễn đặt một cửa ải.

Bảo tàng Hà Tĩnh còn ghi nhận: khi khảo sát năm hai nghìn không trăm lẻ hai, cơ quan chuyên môn xác định di tích nằm cách đường phân thủy đỉnh đèo bảy phẩy bảy mét về phía bắc, thuộc địa phận Hà Tĩnh. Năm hai nghìn không trăm lẻ năm, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xếp hạng Hoành Sơn Quan là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Trước đó, phía Quảng Bình cũng từng xếp hạng di tích cấp tỉnh vào năm hai nghìn không trăm lẻ hai.

Cả nhà đã nghe tên gọi dân gian khác của Hoành Sơn Quan chưa? Người địa phương và khách du lịch hay gọi là Cổng trời. Đứng ở đây nhìn ra, nhìn xuống vùng Kỳ Nam với ruộng đồng xanh, núi đồi, biển xa và Quốc lộ một A nhỏ xíu dưới chân, cảm giác đứng trên cổng trời không phải là so sánh quá lời.

Và từ đây, cả nhà cũng nhìn xuống con đường dài mà người Việt đã đi qua suốt nhiều thế kỷ. Bà Huyện Thanh Quan đã đứng ở cung đèo này, viết nên bài thơ Qua Đèo Ngang với câu mở đầu bước tới Đèo Ngang bóng xế tà. Bài thơ không nói về Hoành Sơn Quan, mà nói về nỗi cô đơn trên đường thiên lý. Nhưng bối cảnh của bài thơ chính là vùng đất này.

Khi đứng ở đây, cả nhà mình hãy nhớ: Hoành Sơn Quan là cửa ải triều Nguyễn, lịch sử và kiến trúc của nó có thể xác minh được qua sử liệu. Bài thơ Bà Huyện Thanh Quan là lớp cảm xúc văn hóa bao phủ lên không gian này. Hai thứ khác nhau, nhưng ở Đèo Ngang, chúng cùng nhau tạo nên một nơi đáng nhớ trên bản đồ Việt Nam.

Và cổng đá ấy vẫn đứng đó. Rêu vẫn phủ. Gió biển vẫn thổi lên từ phía dưới. Từng viên đá kê theo thế núi vẫn giữ nguyên hình hài của một buổi sáng năm một nghìn tám trăm ba mươi ba, khi ba trăm người lính hoàn thành công việc trong một tháng và bước xuống đèo.

Câu chuyện gần đây