Chuyen.AIPlaylist
Huế

Đại Nội Huế

0:000:00

Một trăm bốn mươi ba năm. Đó là khoảng thời gian triều Nguyễn tồn tại, từ khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi năm một nghìn tám trăm lẻ hai lấy hiệu Gia Long, cho đến khi vua Bảo Đại thoái vị năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm. Mười ba đời vua. Và trung tâm quyền lực suốt thời gian đó là nơi cả nhà mình hôm nay sắp bước vào: Đại Nội Huế.

Đứng trước cổng Ngọ Môn, hãy nhìn thật kỹ vào cánh cổng này. Ngọ Môn không chỉ là một cổng. Nó có năm lối đi. Lối giữa rộng nhất dành riêng cho vua. Hai lối kế bên dành cho quan văn quan võ. Hai lối ngoài cùng dành cho voi ngựa và lính hộ giá. Phân cấp từ trên xuống, ngay từ bước chân đầu tiên vào hoàng cung. Và trên cổng là lầu Ngũ Phụng, nơi vua đứng trong các đại lễ ban chiếu thư cho thần dân. Cổng này hoàn thành dưới triều Minh Mạng, khoảng năm một nghìn tám trăm ba mươi ba.

Đại Nội, mà người Huế hay gọi với cái tên thân thuộc ấy, thực ra là tên chung của Hoàng Thành và Tử Cấm Thành. Đây là hạt nhân của cả Kinh thành Huế, vòng ngoài cùng với chu vi khoảng mười cây số. Vua Gia Long khởi công xây Kinh thành năm một nghìn tám trăm lẻ năm theo hai tư tưởng rất thú vị: một là phong thuỷ phương Đông, hai là kiến trúc thành luỹ kiểu Vauban của Pháp. Có lẽ ít nơi nào trên thế giới lại có một hoàng cung mà phần tường thành ngoài cùng lại chịu ảnh hưởng của kỹ thuật quân sự châu Âu như vậy. Chính nét giao thoa Đông Tây ấy là một phần làm nên giá trị riêng của di sản Huế. Năm một nghìn chín trăm chín mươi ba, UNESCO ghi danh Quần thể Di tích Cố đô Huế làm di sản thế giới đầu tiên của Việt Nam.

Bước qua Ngọ Môn là một khoảng sân lát đá rộng lớn. Đây là sân Đại Triều Nghi, nơi mỗi tháng hai lần vào mùng một và rằm âm lịch, vua thiết Đại Triều. Các quan văn quan võ đứng thành hàng sau những tấm đá khắc phẩm bậc. Phía trước là Điện Thái Hoà, công trình quan trọng nhất của Đại Nội. Đây là nơi diễn ra lễ đăng quang của tất cả mười ba đời vua Nguyễn, nơi đặt ngai vàng, với tám mươi cột gỗ sơn son thếp vàng và nhiều ô thơ văn khắc trên kết cấu gỗ đá men lam. Chính những bài thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế này đã được UNESCO ghi danh vào Ký ức Thế giới khu vực châu Á Thái Bình Dương năm hai nghìn không trăm mười sáu.

Tại sao lại gọi là Tử Cấm Thành? Chữ "tử" ở đây chỉ màu tím, nhưng cái tên lấy ý từ chòm sao Tử Vi, nơi người xưa tin là cung điện của Trời. Vua được coi là con của Trời, nên nơi vua ở dưới mặt đất cũng mang chữ ấy. Còn "cấm" vì đây là vùng cấm địa: ngoài vua, hoàng tử nhỏ và phi tần, các quan lại và lính tráng không được tự ý bước vào. Bước qua Đại Cung Môn là chúng ta vào không gian riêng tư nhất của hoàng gia.

Điện Cần Chánh, nơi vua xử lý chính vụ thường ngày, và Điện Càn Thành, nơi vua nghỉ ngơi, đều đã bị phá huỷ hoàn toàn trong những năm chiến tranh. Suốt mấy chục năm sau đó, ở chỗ hai toà điện chỉ còn lại những nền đá. Đứng trước những nền đá ấy, người ta có thể hình dung được quy mô của những gì đã mất, và cũng hiểu vì sao công cuộc bảo tồn kéo dài hơn ba mươi năm qua, từ khi UNESCO ghi danh năm một nghìn chín trăm chín mươi ba, lại quan trọng đến vậy. Năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm, Điện Cần Chánh bắt đầu được dựng lại ngay trên nền cũ, với những hàng cột gỗ lim mới. Trước năm một nghìn chín trăm bốn mươi bảy, Đại Nội có khoảng một trăm bốn mươi bảy công trình. Những gì chúng ta thấy hôm nay là kết quả của hơn ba thập kỷ nỗ lực phục dựng và bảo tồn.

Cuối Tử Cấm Thành là lầu Kiến Trung. Đây là công trình được xây dưới thời Khải Định năm một nghìn chín trăm hai mươi mốt, phong cách kết hợp Á và Âu: bên ngoài có hoa văn rồng phượng truyền thống, bên trong lại có kết cấu khung theo kiểu Pháp, kính màu, gốm sứ trang trí. Nơi đây từng là chỗ ở của vua Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu, cặp vua hoàng hậu cuối cùng của Việt Nam.

Hai góc phía nam Hoàng Thành là hai khu thờ tự đối xứng nhau. Tại đây triều Nguyễn dựng bốn ngôi miếu: Triệu Miếu thờ tổ Nguyễn Kim, Thái Miếu thờ chín đời chúa Nguyễn, Hưng Miếu thờ cha vua Gia Long, và Thế Miếu, nơi thờ các vua từ Gia Long trở đi. Trước Thế Miếu là Hiển Lâm Các, công trình ba tầng cao nhất Đại Nội khoảng mười bảy mét, do Minh Mạng cho xây để tưởng nhớ công đức các vua tiền nhiệm. Và phía trước Hiển Lâm Các là Cửu Đỉnh, chín đỉnh đồng do vua Minh Mạng cho đúc trong những năm một nghìn tám trăm ba mươi lăm đến một nghìn tám trăm ba mươi bảy, mỗi đỉnh mang một tên riêng. Trên thân chín đỉnh đồng này khắc tổng cộng một trăm sáu mươi hai hoa văn về núi sông sản vật công cụ tinh tú của Việt Nam thế kỷ mười chín. Có thể xem đây như một bảo tàng địa lý đúc bằng đồng. Năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn, bản đúc nổi trên Cửu Đỉnh tiếp tục được UNESCO ghi danh vào Ký ức Thế giới khu vực châu Á Thái Bình Dương.

Khu cung Diên Thọ và cung Trường Sanh ở phía tây là nơi ở của các bà Hoàng Thái hậu. Trong tất cả các khu cung trong Đại Nội, đây là nơi còn giữ được nguyên vẹn nhất cả kiến trúc gỗ lẫn sân vườn. Hãy để ý kết cấu mái lưỡng trùng, hai lớp mái chồng lên nhau, đặc trưng của kiến trúc cung đình Nguyễn.

Ngay đối diện Đại Nội qua đường là Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế, nơi lưu giữ hơn mười nghìn hiện vật cung đình Nguyễn, từ long bào đến ngọc tỷ, từ đồ sứ men lam đến mộc bản. Đây là kho lưu trữ sống động nhất của ký ức hoàng triều.

Huế hiện là thành phố duy nhất ở Việt Nam có tám danh hiệu UNESCO ghi danh, từ quần thể di tích vật thể, nhã nhạc cung đình phi vật thể, cho đến các di sản tư liệu như Mộc bản, Châu bản, thơ văn trên kiến trúc cung đình, và bản đúc nổi trên Cửu Đỉnh. Đại Nội là trung tâm của toàn bộ hệ thống di sản ấy. Mỗi hoa văn trên những hàng cột son, mỗi bài thơ khảm trên xà gỗ, mỗi nền đá còn sót lại sau chiến tranh, tất cả đều là một phần của câu chuyện dài một trăm bốn mươi ba năm mà cả nhà mình vừa bước vào hôm nay.

Câu chuyện gần đây