Dasan Jeong Yak-yong và những lá thư gửi con
Con đường ấy đi về phía nam, và mỗi ngày nó lại kéo người ta xa thêm một quãng.
Cuối năm một nghìn tám trăm lẻ một, một người đàn ông rời kinh đô của triều Joseon để đi đày. Ông không được chọn ngày đi, càng không được chọn ngày về. Người ta chỉ báo cho ông biết nơi phải đến: Gangjin, một huyện nhỏ nằm mãi tít dưới phía nam, gần như hết chiều dài bán đảo.
Người đàn ông ấy tên là Jeong Yak-yong, sinh năm một nghìn bảy trăm sáu mươi hai. Trước đó ít lâu, vào năm một nghìn bảy trăm chín mươi hai, chính ông là người vẽ ra cỗ cần cẩu bằng gỗ chạy ròng rọc tên geojunggi, thứ đã giúp nâng những khối đá nặng lên tường thành Hwaseong ở Suwon.
Bây giờ thì ông đang đi ngược lại, mỗi bước một xa hơn khỏi tất cả những việc mình từng làm.
Vì sao lại thành ra như vậy? Triều đình lúc bấy giờ đâm ra nghi ngờ gia đình ông. Mà trong triều đình ngày xưa, khi đã bị nghi thì người ta không cãi lại được. Lệnh của triều đình gọn lỏn: đi thật xa, và ở yên dưới đó cho tới khi nào có lệnh khác. Lệnh khác ấy, mười tám năm sau mới tới.
Đường xuống phương nam hồi ấy không có tàu, không có xe. Chỉ có chân người, lưng ngựa và những chuyến đò ngang. Mỗi sáng thức dậy là kinh đô lại lùi thêm một quãng về phía sau lưng. Tiếng người quen thưa dần. Giọng nói hai bên đường đổi khác. Rồi đến một lúc, gió cũng đổi mùi: gió mang vị mằn mặn, nghĩa là biển đã ở đâu đó rất gần.
Cuối cùng thì đường hết. Ông đứng ở Gangjin.
Và đây mới là chỗ lạ của câu chuyện này. Với hầu hết các chuyến đi, tới nơi là xong. Với chuyến đi ấy, tới nơi mới là bắt đầu.
Gangjin nằm giữa một vùng đồi thấp nhìn ra vịnh. Trên sườn ngọn núi tên Mandeok có những bụi chè mọc lâu năm, nhiều đến mức người quanh vùng gọi luôn quả đồi ấy là núi chè. Núi chè, trong tiếng Hàn đọc là Dasan. Về sau, người đời không gọi ông bằng tên thật nữa. Họ gọi ông bằng tên quả đồi đã giữ ông suốt những năm dài đó.
Ở lưng chừng đồi có một ngôi nhà tranh nhỏ quay mặt về hướng nam. Nhà ấy tên Dasan Chodang, nghĩa là ngôi nhà tranh trên núi chè. Bên trái nhà là một cái ao con. Ngoài sân có chỗ đun nước pha trà bằng đá. Trên vách đá gần đó, hai chữ Jeongseok được khắc vào, và nét khắc ấy còn nguyên tới bây giờ. Trèo lên chỗ cao hơn một chút là thấy vịnh Gangjin nằm dưới kia, sáng loáng.
Một người khác ở vào chỗ ấy có lẽ sẽ ngồi than thân cho hết ngày. Ông thì kê bàn viết.
Học trò trong vùng lần lượt tìm tới. Căn nhà tranh thành lớp học. Sách được chở về, mượn về, chép tay lại, chất dần quanh chỗ ông ngồi. Và ông viết. Viết đều, viết dai, năm này qua năm khác, cho tới khi người đời sau đếm được khoảng năm trăm quyển do chính tay ông soạn ra trong quãng thời gian ấy. Sách bàn cách cai trị sao cho dân bớt khổ. Sách về luật lệ và việc xử án. Sách thuốc, sách xem trời, sách dạy dựng nhà.
Nhưng thứ khiến người Hàn Quốc ngày nay nhắc tới ông bằng một giọng dịu hẳn xuống lại không phải chồng sách kia. Là những lá thư đi ngược lên phía bắc.
Ở quê nhà, ông có hai con trai: Jeong Hak-yeon và Jeong Hak-yu. Khi cha bị đưa đi, hai anh em còn đang tuổi ăn học. Suốt mười tám năm, cha con cách nhau gần trọn chiều dài một đất nước, và ông thì không được phép bước qua khoảng cách đó. Thứ duy nhất đi lại được giữa hai đầu là giấy.
Thế là ông nuôi con bằng giấy.
Thư gửi về không kể khổ. Ý trong những lá thư ấy là dặn con nên đọc sách gì và đọc thế nào cho vào đầu, viết một câu văn thì phải viết ra sao, học hành rốt cuộc là để làm gì. Và điều ông nhắc lại nhiều hơn cả là điều khó nhất: nhà đang lúc sa sút, người ngoài nhìn vào bằng con mắt khác, thì hai đứa vẫn phải sống cho ngay ngắn, tử tế, giữ đúng nếp của người có học.
Cả nhà thử hình dung một người cha ngồi trong căn nhà tranh trên đồi chè, viết xuống một câu dặn con, gấp lại, rồi chờ hàng tuần liền cho lá thư ấy đi hết đúng con đường mà chính ông đã đi.
Năm một nghìn tám trăm mười, từ nhà gửi xuống cho ông một món đồ lạ. Không phải sách, cũng không phải tiền. Là một chiếc váy lụa.
Đó là chiếc váy đỏ mà vợ ông, bà Hong, đã mang theo hồi mới về nhà chồng. Bao nhiêu năm cất giữ, màu đỏ phai dần đi thành màu ráng chiều. Bà gửi nó xuống tận phương nam cho chồng.
Ông không cất chiếc váy vào rương. Ông cắt tấm lụa ấy ra thành từng mảnh nhỏ, ghép lại thành mấy tập giấy vải, rồi ngồi viết lên đó những lời dặn dò cho hai con trai. Chữ của cha, trên váy cưới của mẹ. Tập ấy tên là Hapicheop.
Vốn có bốn tập. Ngày nay còn ba. Ba tập vải nhỏ ấy giờ nằm trong Bảo tàng Dân gian Quốc gia Hàn Quốc ở Seoul, được xếp vào hàng bảo vật, sau một lớp kính.
Chỗ vải còn thừa ông cũng không bỏ. Ông vẽ lên đó mấy con chim đậu trên một cành mai đang nở, kèm theo một bài thơ, gửi cho con gái, mong con êm ấm bên nhà chồng.
Mùa thu năm một nghìn tám trăm mười tám, lệnh cho về mới tới.
Đúng năm ấy ông hoàn thành cuốn sách nổi tiếng nhất đời mình, cuốn Mokminsimseo, bàn chuyện người làm quan phải chăm lo cho dân thế nào. Một người bị đẩy ra khỏi việc quan suốt mười tám năm lại ngồi viết trọn một cuốn sách dạy người ta làm quan cho tử tế.
Rồi ông đi ngược con đường cũ, lần này là đường về nhà.
Con đường ấy bây giờ vẫn còn, chỉ khác là người ta xuống Gangjin bằng xe và đi hết trong một buổi. Cuối đường là quả đồi chè, là ngôi nhà tranh dựng lại đúng trên nền cũ, là cái ao con bên trái nhà và chỗ pha trà bằng đá ngoài sân. Khách tới thăm hay đứng rất lâu ở chỗ cao nhìn xuống vịnh. Còn sau lưng họ, xa hút, là hướng bắc, là phía mà những lá thư ngày xưa vẫn đi về.
Còn ở Seoul, trong tủ kính, mấy mảnh lụa màu ráng chiều vẫn đang nói nốt phần còn lại của câu chuyện. Chữ của một người cha không về được, viết cho hai đứa con ông không chạm tới được, trên chính tấm váy cưới mà người vợ đã gửi đi hết chiều dài đất nước.