Tượng đài Trần Hưng Đạo – Đỉnh Núi An Phụ
Cả nhà vừa lên tới đỉnh núi An Phụ, ở độ cao hai trăm bốn mươi sáu mét. Phía dưới là đồng bằng Bắc Bộ trải rộng. Phía đông xa, trong ngày trời quang, có thể thấy cửa sông Bạch Đằng lấp lánh.
Và đứng giữa tầm mắt đó, một bức tượng đá xanh khổng lồ hiên ngang. Đó là Tượng đài Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.
Tượng cao mười hai phẩy bảy mét tính cả bệ, riêng thân tượng đã cao chín phẩy bảy mét. Toàn bộ được ghép từ sáu mươi lăm phiến đá xanh lấy từ núi Nhồi, tỉnh Thanh Hóa, chia làm tám đoạn lớn, với lõi bê tông cốt thép bên trong để chịu lực và chịu gió biển trên đỉnh núi cao. Tổng trọng lượng khoảng hai trăm tấn. Tượng được khánh thành ngày tám tháng mười năm một nghìn chín trăm chín mươi tám, tức mười tám tháng tám Âm lịch năm Mậu Dần, đúng kỷ niệm sáu trăm chín mươi tám năm ngày mất của Đức Thánh Trần năm một nghìn ba trăm.
Cả nhà hãy nhìn kỹ tư thế của tượng. Tay trái ngài tì lên kiếm, biểu tượng võ. Tay phải ngài cầm cuốn binh thư, biểu tượng văn. Đây là tư thế "văn võ song toàn", phẩm chất mà người Việt coi là lý tưởng của một bậc đại tướng. Cuốn binh thư ngài cầm được cho là "Binh thư Yếu lược", tác phẩm quân sự mà chính ngài đã viết, đến nay vẫn còn được nghiên cứu.
Và điều đặc biệt: mặt tượng hướng về phía đông, hướng cửa sông Bạch Đằng. Cách An Phụ khoảng hai mươi lăm cây số theo đường chim bay chính là nơi Trần Hưng Đạo đã ba lần đại phá quân Nguyên Mông. Đặc biệt là trận Bạch Đằng năm một nghìn hai trăm tám mươi tám, khi ông cho cắm cọc gỗ bịt sắt xuống lòng sông, dụ thuyền giặc vào đúng lúc thủy triều rút, tiêu diệt toàn bộ thủy quân Nguyên và bắt sống Ô Mã Nhi. Mặt tượng hướng về đó như ngài vẫn mãi nhìn về nơi đã ghi danh sử sách.
Trần Quốc Tuấn sinh năm một nghìn hai trăm hai mươi tám, mất năm một nghìn ba trăm. Ông là con của An Sinh Vương Trần Liễu, cháu của vua Trần Thái Tông. Ông đã ba lần nhận lệnh làm Tổng chỉ huy đánh quân Nguyên Mông. Năm một nghìn hai trăm năm mươi tám là lần đầu. Năm một nghìn hai trăm tám mươi lăm là lần hai, và chính lần đó ông viết "Hịch tướng sĩ", bài hịch lịch sử kêu gọi toàn quân xả thân vì nước. Năm một nghìn hai trăm tám mươi tám là lần ba, trận Bạch Đằng bất tử.
Sau khi mất, dân gian phong ngài là "Đức Thánh Trần", một trong những vị thần được thờ phổ biến nhất Việt Nam. Đền thờ ngài trải khắp cả nước, từ Kiếp Bạc ở Hải Dương đến đền ở Nam Định, Quy Nhơn, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cạnh tượng đài là một điểm đặc biệt mà cả nhà không nên bỏ qua. Bên trái tượng là bức phù điêu đất nung dài bốn mươi lăm mét, cao trung bình hai phẩy năm mét, ghép từ năm trăm hai mươi sáu viên gạch đất nung. Đất nung là chất liệu truyền thống Việt Nam. Phù điêu kể lại ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông qua nhiều cảnh sinh động: quân Đại Việt xuất trận, Hịch tướng sĩ, trận Bạch Đằng với hình ảnh cọc gỗ và thuyền giặc mắc cọc.
Cả nhà đang đứng trên đỉnh núi An Phụ, ngay cạnh Đền Cao, đền thờ An Sinh Vương Trần Liễu, cha của Trần Hưng Đạo. Đây là điểm nhấn đặc biệt nhất của khu An Phụ: cha trong đền, con là tượng đài, cha con anh hùng cùng được tôn vinh trên một đỉnh núi.
Có một câu chuyện lịch sử đáng suy ngẫm. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và truyền thuyết phổ biến, Trần Liễu trước khi mất đã căn dặn con trai báo thù vì những bất công ông phải chịu khi sống. Nhưng Trần Hưng Đạo đã không làm vậy. Ông đặt lợi ích quốc gia lên trên thù riêng, tận tụy phò vua chống Nguyên Mông đến hơi thở cuối cùng. Sử gọi đây là "đại nghĩa", bài học lớn nhất về đức trung thần mà ngài để lại cho hậu thế.
Quần thể di tích nơi chúng ta đứng được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích Quốc gia Đặc biệt ngày hai mươi hai tháng mười hai năm hai nghìn mười sáu, với tên gọi "An Phụ – Kính Chủ – Nhẫm Dương".
Khi cả nhà nhìn tượng lần cuối trước khi xuống, hãy nhớ rằng người đứng đây không chỉ là một vị tướng. Ngài là người đã ba lần giữ lại sự độc lập cho Đại Việt khi đế quốc Nguyên Mông đang làm chủ gần như toàn bộ thế giới biết tới lúc đó. Không có gì quá đáng khi nói ngài là người quan trọng nhất trong lịch sử trung đại Việt Nam.