Văn Miếu Mao Điền
Ở Việt Nam có câu "đất học xứ Đông." Câu đó xuất phát từ đây.
Cả nhà ơi, chúng ta đang đến Văn Miếu Mao Điền, Văn Miếu lớn thứ hai miền Bắc Việt Nam, chỉ sau Văn Miếu Quốc Tử Giám ở Hà Nội. Công trình được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích Quốc gia Đặc biệt theo Quyết định hai nghìn không trăm tám mươi hai, ngày hai mươi lăm tháng mười hai năm hai nghìn không trăm mười bảy. Từ ngày mồng một tháng bảy năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm, xã nơi có Văn Miếu được đặt tên là xã Mao Điền, tên đặt để bảo tồn thương hiệu của di tích lớn này, thuộc Thành phố Hải Phòng sau sáp nhập.
Văn Miếu là gì? Đó là đền thờ Khổng Tử, người sáng lập Nho giáo, và là nơi tôn vinh những người học giỏi, thi đỗ cao. Mỗi tỉnh, mỗi trấn thời xưa đều có Văn Miếu riêng. Hà Nội có Văn Miếu Quốc Tử Giám là cao nhất. Và Mao Điền là lớn thứ hai miền Bắc.
Lịch sử Văn Miếu Mao Điền bắt đầu từ thế kỷ mười lăm, khi nhà Lê Sơ sau chiến thắng quân Minh năm một nghìn bốn trăm hai mươi tám chủ trương mở mang giáo dục toàn quốc. Trường thi hương tại Mao Điền được xây dựng để phục vụ cả vùng xứ Đông, gồm Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên và một phần Bắc Ninh. Đến năm một nghìn tám trăm lẻ một, thời Tây Sơn, Văn Miếu được di chuyển từ Vĩnh Lại về đây và kết hợp với trường thi hương, trở thành trung tâm Nho học lớn nhất vùng.
Từ đây, qua các triều Lê và Nguyễn, hàng nghìn cử nhân và tiến sĩ đã được đào tạo và thi cử, con số đứng đầu cả nước thời Nho học. Vùng Hải Dương cổ không chỉ học giỏi mà còn có nhiều Đại khoa, người đỗ tiến sĩ, nhất Việt Nam trong nhiều thế kỷ. Đó là lý do câu "đất học xứ Đông" gắn với vùng này.
Nhưng điều làm Văn Miếu Mao Điền khác biệt với hầu hết các văn miếu trong cả nước không phải quy mô. Đó là đối tượng được thờ phụng.
Phần lớn các văn miếu Việt Nam thờ Khổng Tử cùng bộ "Tứ phối" và "Thất thập nhị hiền", các môn đồ và nhân vật Nho học của Trung Quốc. Văn Miếu Mao Điền làm khác: phối thờ thêm tám vị Đại khoa Việt Nam tiêu biểu của xứ Đông. Tám người con ưu tú nhất của đất học này.
Cả nhà cùng nghe về họ nhé.
Đầu tiên là Chu Văn An, "Vạn thế sư biểu", người thầy muôn đời, thầy của hai vị vua Trần. Đền thờ ông trên núi Phượng Hoàng ở Chí Linh cũng thuộc Thành phố Hải Phòng mới sau năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm.
Thứ hai là Mạc Đĩnh Chi, người duy nhất trong lịch sử Việt Nam có danh hiệu "Lưỡng quốc Trạng nguyên." Ông đỗ Trạng nguyên nước Đại Việt năm một nghìn ba trăm lẻ bốn. Khi đi sứ sang nhà Nguyên ở Trung Quốc, vua Nguyên đã thử thách rồi phong thêm cho ông là Trạng nguyên thứ hai, vừa trạng nguyên Đại Việt, vừa trạng nguyên Trung Hoa. Không ai khác trong lịch sử Việt Nam có danh hiệu này.
Thứ ba là Nguyễn Trãi, anh hùng dân tộc, tác giả "Bình Ngô Đại Cáo", được UNESCO công nhận Danh nhân văn hóa thế giới năm một nghìn chín trăm tám mươi.
Thứ tư là Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trạng Trình, cố vấn của cả bốn thế lực Mạc, Lê, Trịnh, Nguyễn.
Thứ năm là Tuệ Tĩnh, tên thật Nguyễn Bá Tĩnh, thiền sư và đại danh y thế kỷ mười bốn. Ông là ông tổ của ngành y học cổ truyền Việt Nam, tác giả cuốn "Nam dược thần hiệu", sách thuốc Nam đầu tiên có hệ thống của nước ta. Quê ông ở Cẩm Giàng, ngay gần đây. Sau cải cách năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm, xã kế bên Mao Điền được đặt tên là xã Tuệ Tĩnh.
Thứ sáu là Phạm Sư Mạnh, đại thần triều Trần, học trò của Chu Văn An, quê Kinh Môn. Tên ông đặt cho phường Phạm Sư Mạnh, nơi có Đền Cao An Phụ.
Thứ bảy là Vũ Hữu, toán học gia và đại thần thời Lê, đóng góp cho toán học Việt Nam thế kỷ mười lăm.
Và người thứ tám, đây là người đặc biệt nhất, Nguyễn Thị Duệ. Bà sinh năm một nghìn năm trăm bảy mươi bốn và là nữ tiến sĩ duy nhất trong toàn bộ lịch sử khoa cử Nho học Việt Nam. Nho giáo không cho phép phụ nữ thi cử. Bà đã giả trang nam nhi để dự thi và đỗ tiến sĩ thời nhà Mạc. Khi sự thật bị phát hiện, thay vì bị trừng phạt, bà được vua Mạc Kính Cung trọng dụng và mời dạy hoàng tử. Đây là minh chứng cho thấy tài năng của phụ nữ Việt Nam có thể vượt qua những rào cản tưởng chừng không thể vượt qua được.
Tám vị này không đơn thuần là những cái tên trên bia đá. Họ là tám câu chuyện về trí tuệ, đạo đức và nghị lực của người xứ Đông qua sáu thế kỷ lịch sử.
Và nhìn rộng ra, sau cải cách hành chính năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm, dấu ấn của tám vị Đại khoa đã được lưu lại trong tên các xã và phường mới: xã Mao Điền, xã Tuệ Tĩnh, phường Chu Văn An, phường Phạm Sư Mạnh, xã Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tên người được khắc vào bản đồ, không bao giờ phai.
Đứng trong sân Văn Miếu Mao Điền hôm nay, cả nhà có thể cảm nhận sức nặng của sáu thế kỷ học vấn dồn vào một mảnh đất. Tám cái tên trên vách điện thờ không phải di tích nguội lạnh. Họ là linh hồn của câu nói mà người xứ Đông vẫn tự hào từ đời này sang đời khác: đất học xứ Đông.