Vườn Quốc Gia Cát Bà
Năm 1986, khi phần lớn người Việt vẫn đang vật lộn với những năm khó khăn sau chiến tranh, Hội đồng Bộ trưởng ký một quyết định đáng chú ý: Quyết định số 79-CT, ngày 31 tháng 3 năm 1986, thành lập Vườn Quốc Gia Cát Bà.
Đó là lúc Việt Nam quyết định: rừng và biển trên hòn đảo đá vôi này cần được bảo vệ trước khi quá muộn.
Gần bốn mươi năm sau, quyết định đó đã đúng.
Vườn Quốc Gia Cát Bà hiện có diện tích hơn mười bảy nghìn héc ta, trong đó hơn mười nghìn héc ta là rừng núi và hơn sáu nghìn bốn trăm héc ta là biển. Đây là vùng lõi của Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới UNESCO công nhận năm hai nghìn không trăm linh bốn, và một phần của Di sản Thiên nhiên Thế giới "Vịnh Hạ Long, Quần đảo Cát Bà" năm hai nghìn không trăm hai mươi ba.
Ba tầng sinh thái khiến nơi này khác biệt.
Tầng thứ nhất là rừng mưa nhiệt đới trên núi đá vôi, khoảng một trăm năm mươi cây số vuông. Theo Cổng thông tin Bảo tồn Thiên nhiên của Nhà nước Việt Nam, đây là khu rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi thuộc nhóm lớn nhất Đông Nam Á. Rừng trên đá vôi có đặc điểm riêng: cây bám sâu vào các kẽ đá, rễ cổ thụ uốn quanh như lưới, tán che dày đến mức buổi trưa nắng to vào rừng vẫn mát. Hơn một nghìn năm trăm chín mươi lăm loài thực vật.
Tầng thứ hai là biển. Vùng biển VQG có rạn san hô cổ rộng khoảng một nghìn năm trăm héc ta, đây là rạn san hô lớn nhất vịnh Bắc Bộ. Dưới nước là một nghìn chín trăm hai mươi bảy loài động vật đã được ghi nhận, trong đó ba trăm sáu mươi loài san hô, các loài cá rạn đầy màu sắc, và một hệ sinh thái cỏ biển.
Tầng thứ ba là hang động karst. Hàng chục hang lớn nhỏ trên đảo, mỗi hang là một công trình địa chất hình thành trong hàng triệu năm. Hang Trung Trang gần cổng vườn là hang dễ tham quan nhất, đường mòn dài khoảng ba trăm mét. Hang Quân Y có câu chuyện đặc biệt: trong kháng chiến chống Mỹ, hang này được dùng làm bệnh viện dã chiến, phòng mổ và phòng hậu phẫu được đặt ngay trong lòng đá. Đây là một trong số ít vườn quốc gia ở Việt Nam còn lưu giữ di tích chiến tranh trong rừng.
Và sau đó là vọoc Cát Bà.
Cả nhà đã nghe qua ở phần giới thiệu quần đảo. Nhưng câu chuyện hồi phục của loài này đáng nghe thêm lần nữa. Đầu những năm hai nghìn, chỉ còn năm mươi đến sáu mươi con. Loài này đứng trước ngưỡng tuyệt chủng. Các nhà khoa học quốc tế và Ban Quản lý vườn triển khai chương trình bảo tồn, giáo dục cộng đồng, tuần tra ngăn săn bắn, bảo vệ sinh cảnh. Hai mươi năm kiên nhẫn. Và nay có khoảng chín mươi hai cá thể.
Chín mươi hai con. Tất cả ở đây, trên quần đảo này, không một con nào ở đâu khác trên thế giới.
Có bốn tuyến trekking trong vườn, mỗi tuyến mở ra một khung cảnh khác nhau.
Tuyến ngắn nhất và phổ biến nhất: từ cổng Trung Trang leo lên đỉnh Ngự Lâm, cao khoảng hai trăm hai mươi lăm mét, có chòi quan sát ngắm rừng và biển. Mất khoảng ba đến năm giờ.
Tuyến trung: từ Trung Trang đi thêm vào Ao Ếch, một hồ rừng đầm lầy nhỏ giữa núi đá vôi, là môi trường sống của nhiều loài ếch nhái đặc trưng.
Tuyến dài nhất trong ngày: Trung Trang, Ao Ếch, rồi đến làng Việt Hải, khoảng tám đến mười cây số xuyên rừng, mất bốn đến sáu giờ. Đến Việt Hải thì đi thuyền về thị trấn Cát Bà qua vịnh Lan Hạ, khoảng ba mươi đến sáu mươi phút trên mặt nước giữa các trụ đá vôi. Đây là trải nghiệm kết thúc một ngày trekking khó quên.
Và tuyến chuyên sâu: đỉnh Cao Vọng, ba trăm hai mươi hai mét, đỉnh cao nhất của cả Cát Bà và vùng vịnh Hạ Long. Tuyến này cần hướng dẫn viên kiểm lâm đi cùng, chuẩn bị thể lực tốt, và có thể cần cắm trại qua đêm.
Vườn Quốc Gia Cát Bà là bằng chứng sống rằng thiên nhiên có thể hồi phục nếu con người kiên nhẫn đủ lâu. Bốn mươi năm quyết tâm, và kết quả hiện ra trên từng nhánh cây, từng rặng san hô, trong ánh mắt của chín mươi hai con vọoc đang nhìn xuống từ vách đá.