Khu du lịch sinh thái Măng Đen
Khi lên đến Măng Đen, điều đầu tiên cả nhà nhận ra là không khí khác đi. Mát hơn. Trong hơn. Và yên hơn hẳn so với đồng bằng.
Măng Đen thuộc xã Măng Đen, tỉnh Quảng Ngãi hiện nay; trong nhiều tài liệu du lịch cũ, khu vực này được ghi là huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum. Sau sắp xếp hành chính năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm, khu vực Kon Tum cũ đã thuộc tỉnh Quảng Ngãi mới, nhưng về cảnh quan và đời sống, đây vẫn là vùng cao nguyên xanh mà nhiều người gọi thân mật là Đà Lạt thứ hai của Tây Nguyên.
Tên Măng Đen đến từ tiếng Mơ Nâm, ngôn ngữ của người bản địa vùng này: T'mang deeng, nghĩa là vùng đất rộng lớn, bằng phẳng. Đúng là vùng đất có những khoảng bằng phẳng giữa núi, nhưng xung quanh là rừng và đỉnh núi bao quanh. Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam ghi Măng Đen nằm ở độ cao hơn một nghìn mét so với mực nước biển, nhiệt độ trung bình năm khoảng mười tám đến hai mươi độ. Nguồn địa phương ghi khu vực thị trấn cũ ở độ cao một nghìn đến một nghìn ba trăm mét, nhiệt độ mười tám đến hai mươi bốn độ.
Đó là lý do vì sao rừng thông ở đây mọc được, sương lạnh buổi sáng là điều thường nhật và rau hoa xứ lạnh phát triển tốt trên những thửa đất ven đường.
Người ta kể về Măng Đen bằng hình ảnh bảy hồ ba thác. Câu chuyện dân gian về thần Pling và bảy hồ là lớp ký ức văn hóa của cộng đồng địa phương, không phải số liệu địa lý khoa học. Nhưng danh sách bảy hồ có nguồn từ chính quyền huyện Kon Plông cũ: Toong Ly Leng, Toong Ziu, Toong Zơ Ri, Toong Săng, Toong Pô, Toong Đam và Đăk Ke. Ba thác gồm Pa Sỹ, Đăk Ke và Đăk Pne.
Thác Pa Sỹ là điểm được nhắc đến nhiều nhất. Theo nguồn địa phương, tên Pau Suh nghĩa là ba nguồn suối chụm lại thành một dòng, rồi đọc chệch thành Pa Sỹ. Khu vực quanh thác có rừng, đá và đường đi bộ.
Hồ Đăk Ke là một điểm cảnh quan mặt nước quen thuộc của Măng Đen. Tháng hai năm hai nghìn không trăm hai mươi sáu, chính quyền xã Măng Đen phối hợp thả năm nghìn con cá giống xuống hồ để tái tạo nguồn lợi thủy sản và cải thiện hệ sinh thái mặt nước. Điều đó cho thấy Măng Đen đang quản lý du lịch theo hướng bảo tồn cảnh quan, không chỉ khai thác.
Điểm mới nhất của Măng Đen tính đến tháng năm năm hai nghìn không trăm hai mươi sáu là khu nghỉ dưỡng hồ Toong Đam, khai trương ngày một tháng năm năm đó, quy mô hai mươi chín héc-ta với bungalow ven hồ, khu sinh thái và dịch vụ ẩm thực.
Về văn hóa cộng đồng, Măng Đen có tiếng về cồng chiêng, múa xoang, trang phục thổ cẩm và chợ phiên. Bản tin của xã Măng Đen ghi các làng Kon Vơng Kia, Kon Chênh, Kon Tu Ma đang được đầu tư làm du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa dân tộc. Lễ hội đường phố dịp ba mươi tháng tư và một tháng năm năm hai nghìn không trăm hai mươi sáu có diễu hành, cồng chiêng, múa xoang, cà kheo và hóa trang nghệ thuật. Chợ phiên và khu kinh tế đêm cũng đã đi vào hoạt động.
Về quy hoạch tổng thể, Hội đồng Nhân dân tỉnh Kon Tum đã thông qua đồ án quy hoạch chung xây dựng Khu du lịch Măng Đen đến năm hai nghìn không trăm bốn mươi lăm với diện tích hơn chín mươi nghìn héc-ta, mục tiêu phát triển thành điểm đến hấp dẫn của Tây Nguyên gắn với cảnh quan, đa dạng sinh học và văn hóa truyền thống.
Nhưng những gì không thay đổi ở Măng Đen là sương buổi sáng, rừng thông, tiếng nước thác và sắc xanh của những khoảng trời mà Tây Nguyên vẫn còn giữ được.