Chùa Bác Ái
Giữa phố núi Kon Tum, nép sau hàng cây cổ thụ trên đường Nguyễn Gia Thiều, có một ngôi chùa đã đứng vững gần trăm năm và mang trong mình câu chuyện về những người dám đi mở đất.
Đó là Chùa Bác Ái, hay còn gọi trang trọng hơn là Tổ đình Bác Ái, Sắc tứ Bác Ái Tự. Trong ký ức và trong lòng dân địa phương, nơi này vẫn gắn với hai chữ quen thuộc, Chùa Bác Ái Kon Tum.
Theo hồ sơ di tích của Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum, chùa được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh từ ngày mùng tám tháng một năm hai nghìn lẻ chín. Đây là di tích cấp tỉnh, nghĩa là chính quyền địa phương công nhận rằng nơi này có giá trị thật sự đối với ký ức và bản sắc của vùng đất.
Chùa được xây dựng vào đầu thập niên một nghìn chín trăm ba mươi, các nguồn tư liệu thường ghi khoảng năm một nghìn chín trăm ba mươi hai đến một nghìn chín trăm ba mươi ba. Khi bước vào sân chùa, cả nhà có thể quan sát trục chính của không gian. Cổng tam quan mở vào chánh điện, hai bên là Đông lang và Tây lang. Tư liệu di tích mô tả tổng thể chùa theo lối kiến trúc Huế và bố cục chữ Môn. Nói theo ngôn ngữ kiến trúc, chữ Môn tức là khi nhìn từ trên xuống, mặt bằng các công trình xếp lại trông giống chữ Môn trong Hán tự.
Cái lối kiến trúc Huế ấy không phải ngẫu nhiên. Để hiểu vì sao, cần nhìn lại câu chuyện về làng Võ Lâm.
Báo Kon Tum kể rằng Chùa Tổ đình Bác Ái chính là cơ sở ban đầu góp phần hình thành làng Võ Lâm. Người dân từ hai làng Trung Lương và Lương Khế đã xin quan Quản đạo Võ Chuẩn tạo lập chùa trên khu đất Âm linh miếu. Từ khi chùa được xây dựng, nhiều hộ dân từ Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Huế và các làng lân cận kéo lên định cư quanh chùa. Ngôi chùa trở thành điểm neo đậu đầu tiên của những người đi lập nghiệp nơi phố núi.
Đó là điều làm Chùa Bác Ái khác biệt. Không phải chỉ là nơi thờ tự, nơi đây còn là một chứng nhân của hành trình di dân, khai phá và định hình một cộng đồng người Việt giữa vùng Tây Nguyên đầu thế kỷ hai mươi.
Và tên chùa, hai chữ "Bác Ái", theo tư liệu di tích, mang nghĩa lòng thương rộng mở, không phân biệt tôn giáo hay cộng đồng. Ở một vùng đất mà người Kinh, người Bahnar, người Jrai, người Xơ Đăng cùng sống, cái tên ấy không phải ngẫu nhiên.
Một chi tiết đáng kể nữa là chùa từng được triều Nguyễn sắc tứ hiện vật. Theo tư liệu, vào tháng mười một năm một nghìn chín trăm ba mươi ba, triều đình ban cho chùa một Đại hồng chung cùng một số phẩm vật thờ tự. Quả chuông lớn ấy nay không còn lưu giữ ở Kon Tum nữa, nó đã rời vùng đất này từ năm một nghìn chín trăm chín mươi mốt.
Chùa đã qua nhiều lần trùng tu, nên một số nét kiến trúc ban đầu nay đã đổi khác. Nhưng điều đó không làm phai đi giá trị lịch sử của nơi này. Mỗi lớp vôi vữa mới chỉ là một lớp thời gian nữa đắp thêm lên gần một trăm năm đứng vững giữa phố núi.
Đứng lặng trong khuôn viên chùa, cả nhà sẽ cảm nhận được một lớp trầm sâu hơn của Kon Tum. Phố núi này không chỉ có nhà rông, cồng chiêng và dòng sông Đắk Bla mềm như một dải lụa. Nơi đây còn in dấu chân của những con người đã đi thật xa từ miền Trung lên đây mở đất, dựng một cuộc sống mới giữa đại ngàn. Và họ để lại những mái chùa như thế này, lặng lẽ làm chứng cho một hành trình can đảm chưa từng cũ.