Bãi biển Sa Huỳnh
Ở Sa Huỳnh, đứng trên bãi cát nhìn ra biển, người ta không chỉ thấy sóng mà còn thấy cả chiều sâu của lịch sử. Muốn hiểu vì sao, phải bắt đầu từ một chiếc chum.
Đó là buổi sáng đầu thế kỷ hai mươi, khi một nhà khảo cổ người Pháp cúi xuống một ô đất ở vùng Sa Huỳnh và nhấc lên một chiếc chum. Không phải chiếc chum đựng gạo hay nước. Đây là một chiếc chum mai táng, nơi người xưa gửi lại người thân đã khuất. Và không chỉ một chum. Ở đây có hàng trăm, hàng nghìn chiếc chum như vậy, chôn cất theo một nghi thức rất cụ thể, rất nhất quán, trải dài khắp một vùng lớn từ Quảng Bình đến Bình Thuận.
Phát hiện đó đặt tên cho một nền văn minh: Văn hóa Sa Huỳnh.
Đây là văn hóa khảo cổ thời đại kim khí, nghĩa là thời kỳ người ta đã biết luyện kim, làm đồ vật bằng đồng và sắt, buôn bán với các nền văn minh khác ở Đông Nam Á. Vùng lõi trung tâm của Văn hóa Sa Huỳnh được xác định là Quảng Ngãi, Quảng Nam và bắc Bình Định, trong đó chính vùng Sa Huỳnh là nơi người ta tìm thấy những dấu tích đầu tiên và đặt tên cho cả nền văn hóa này.
Vào cuối năm hai nghìn hai mươi hai, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định xếp hạng Di tích khảo cổ Văn hóa Sa Huỳnh là Di tích quốc gia đặc biệt. Di tích gồm sáu địa điểm: Thạnh Đức, Long Thạnh, Phú Khương, quần thể di tích Champa, đầm An Khê và đập An Khê sông Cửa Lỗ, với diện tích vùng bảo vệ hơn năm trăm héc ta. Quảng Ngãi đang lập hồ sơ đề cử di sản thế giới UNESCO cho khu khảo cổ này.
Vì vậy, khi cả nhà đứng trên bãi cát Sa Huỳnh, xin đừng chỉ thấy bãi tắm. Phía sau bãi cát đó là ba nghìn năm lịch sử con người.
Ngày nay, bãi cát ấy nằm ở phía nam tỉnh Quảng Ngãi, bên bờ biển miền Trung. Sau sắp xếp hành chính năm hai nghìn hai mươi lăm, vùng đất này thuộc phường Sa Huỳnh, được thành lập trên cơ sở sáp nhập phường Phổ Thạnh và xã Phổ Châu cũ, với diện tích gần năm mươi ki lô mét vuông.
Bây giờ hãy nói về muối.
Dọc Quốc lộ Một đoạn qua khu vực Sa Huỳnh có một vùng đồng muối. Đồng muối ấy rộng khoảng một trăm linh năm héc ta, là một trong những vựa muối lớn của miền Trung. Hơn năm trăm diêm dân thuộc ba tổ dân phố Tân Diêm, Thạch Đức Một và Long Thạnh Một sống nhờ nghề này, một nghề có từ thế kỷ mười chín.
Vào những ngày nắng, những ô ruộng muối Sa Huỳnh phản chiếu ánh sáng thành từng mảng trắng bạc. Người diêm dân dùng dụng cụ truyền thống bào muối, gom muối vào từng đống cao. Đó là một công việc vất vả dưới nắng, nhưng là sinh kế của nhiều thế hệ gia đình ở Sa Huỳnh.
Còn một câu chuyện nữa mà nhiều người ít biết: làng Gò Cỏ.
Làng Gò Cỏ nằm sát đầm An Khê và bờ biển Sa Huỳnh. Làng Gò Cỏ là không gian hội tụ ba lớp văn hóa: Sa Huỳnh, Champa và Đại Việt. Tại đây còn lưu giữ các đền thờ cổ, mười một giếng cổ, con đường cổ của người Champa và nhiều phong tục gắn với đặc trưng văn hóa Sa Huỳnh. Vì vậy Gò Cỏ không phải làng bình thường mà là một làng di sản nghìn năm bên bờ biển.
Sa Huỳnh mở ra từng lớp một: bãi cát rộng ngoài cùng, rồi đồng muối trắng bạc, rồi đầm An Khê yên tĩnh, rồi sâu vào tận làng Gò Cỏ nơi ba nền văn hóa chồng lên nhau qua nghìn năm.
Một chi tiết nhỏ về tên gọi: người địa phương kể rằng Sa Huỳnh xưa gọi là Sa Hoàng, nghĩa là bãi cát vàng, sau đọc chệch thành Sa Huỳnh vì kiêng húy tên Nguyễn Hoàng. Nhìn màu cát vàng rực dưới nắng chiều, cách lý giải ấy nghe thật dễ tin, dù đó chỉ là lời kể dân gian.
Điều có thể chắc chắn là: Sa Huỳnh có cát vàng, có biển xanh, có đồng muối, có đầm nước, có di sản khảo cổ và có làng di sản. Đó đã là đủ để Sa Huỳnh trở thành một điểm dừng đáng giá trên hành trình dọc miền Trung.
Vào năm hai nghìn hai mươi bốn, tỉnh Quảng Ngãi đón hơn một triệu bốn trăm nghìn lượt khách, với khu du lịch Sa Huỳnh là một trong những điểm thu hút khách, cùng với đảo Lý Sơn và bãi biển Mỹ Khê. Sa Huỳnh không còn là địa chỉ chỉ người địa phương biết.
Đứng ở bãi cát Sa Huỳnh vào buổi chiều, khi ánh nắng đổ vàng xuống những ô muối phía xa và tiếng sóng vỗ đều sau lưng, cả nhà sẽ hiểu vì sao người ta đặt tên cho cả một nền văn minh theo tên vùng đất này. Hiếm có nơi nào ở miền Trung mà biển, muối, đầm và ký ức ba nghìn năm lại xếp cạnh nhau gần đến vậy.