Làng Gốm Chu Đậu
Năm một nghìn chín trăm tám mươi, một viên Bí thư Đại sứ quán Nhật Bản tại Hà Nội đang ngắm bộ sưu tập đồ gốm tại Bảo tàng Topkapi ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ. Và ông bỗng nhìn thấy một chiếc bình không giống gốm Trung Quốc cũng không giống gốm Nhật. Phần đáy bình có dòng chữ Hán. Ông đọc và ngạc nhiên: "Nam Sách châu", đó là địa danh ở Hải Dương, Việt Nam.
Ông tên là Makoto Anabuki. Và câu chuyện ông tình cờ phát hiện ra từ Istanbul đã dẫn đến việc một làng gốm Việt Nam bị chôn vùi hơn ba trăm năm được tìm lại và tái sinh.
Cả nhà ơi, đây là câu chuyện của Làng gốm Chu Đậu, câu chuyện về thất truyền và tái sinh của một di sản.
Làng gốm Chu Đậu tọa lạc tại thôn Chu Đậu, xã Thái Tân, tên xã được giữ nguyên sau sáp nhập từ ngày một tháng bảy năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm chính vì gắn với thương hiệu gốm Chu Đậu. Nơi đây thuộc Thành phố Hải Phòng sau khi tỉnh Hải Dương sáp nhập vào Hải Phòng.
Từ cuối thế kỷ mười bốn đến thế kỷ mười bảy, Chu Đậu là một trong những trung tâm sản xuất gốm sứ cao cấp nhất của Đại Việt. Gốm Chu Đậu được xuất khẩu sang Nhật Bản và các nước Đông Nam Á hải đảo, không phải gốm bình thường cho dân dùng, mà là gốm cao cấp dành cho quý tộc và giới thượng lưu châu Á. Đặc trưng là đất sét trắng, men trắng pha, vẽ men lam dưới men trắng với họa tiết hoa cúc, hoa lan, cá, chim, rồng phượng, tinh tế và sang trọng.
Đến cuối thế kỷ mười bảy, chiến tranh Trịnh, Mạc kéo dài tàn phá vùng này. Làng nghề bị phá hủy. Kỹ thuật làm gốm thất truyền. Trong hơn ba trăm năm, làng Chu Đậu chỉ còn là tên gọi trên bản đồ, không ai làm gốm ở đó nữa.
Cho đến năm một nghìn chín trăm tám mươi, khi ông Makoto Anabuki phát hiện chiếc bình tại Topkapi và viết thư về Việt Nam.
Bảo tàng Topkapi ở Istanbul là gì? Đó là cung điện của các vị Sultan Ottoman, những vị vua Hồi giáo cai trị từ năm một nghìn bốn trăm sáu mươi lăm đến năm một nghìn tám trăm năm mươi sáu, và hiện là bảo tàng với bộ sưu tập gốm sứ Đông Á lớn nhất bên ngoài châu Á. Trong đó có gốm Trung Quốc từ Cảnh Đức Trấn, gốm Nhật Bản từ Imari, và gốm Việt Nam từ Chu Đậu. Chiếc bình Chu Đậu nổi tiếng nhất có dòng chữ ở đáy: "Thái Hòa bát niên Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị Hý bút." Dịch ra: "Năm Thái Hòa thứ tám, tức năm một nghìn bốn trăm năm mươi thời vua Lê Nhân Tông, thợ gốm tên Bùi Thị Hý người châu Nam Sách vẽ chơi."
Đây là một trong những chữ ký nghệ nhân lâu đời nhất trên gốm Việt Nam, và điều đặc biệt là chữ ký của một người thợ nữ. Bà Bùi Thị Hý đã để lại dấu ấn của mình trên đất sét và men lam, để hơn năm trăm năm sau người ta còn nhắc tên bà.
Sau thư của ông Anabuki, năm một nghìn chín trăm tám mươi sáu các nhà khảo cổ Việt Nam tiến hành khai quật và phát hiện một trung tâm sản xuất gốm cao cấp đã bị chôn vùi tại thôn Chu Đậu.
Và còn một bằng chứng lớn hơn. Năm một nghìn chín trăm chín mươi bảy, cơ quan chức năng Việt Nam trục vớt một con tàu đắm cổ tại vùng biển Cù Lao Chàm, Quảng Nam. Tàu chìm vào khoảng đầu thế kỷ mười sáu. Trên tàu có khoảng ba trăm bốn mươi nghìn hiện vật gốm, trong đó hai trăm bốn mươi nghìn còn lành lặn, và phần lớn là gốm Chu Đậu. Đây là bằng chứng quyết định cho thấy gốm Chu Đậu đã có vị thế lớn trong thương mại biển Đông Á thế kỷ mười sáu, không chỉ bán trong nước, mà còn vượt đại dương đến tận Istanbul.
Năm hai nghìn không trăm linh một, Tổng Công ty Thương mại Hà Nội, Hapro, quyết định đầu tư khôi phục làng nghề. Giai đoạn đầu khoảng hai mươi bốn tỷ đồng để xây nhà xưởng, phục dựng kỹ thuật cổ. Hiện nay Công ty Cổ phần Gốm Chu Đậu vận hành sản xuất và đón khách tham quan. Gốm Chu Đậu hiện đại xuất khẩu lại sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và châu Âu. Sản phẩm biểu tượng là bản sao chiếc bình Topkapi.
Khi tham quan, cả nhà sẽ được vào xưởng sản xuất xem nghệ nhân làm việc, từ chế đất, vuốt khuôn, vẽ hoa văn đến tráng men và nung lò. Cả nhà cũng có thể tự tay cầm cọ, chấm men lam lên mặt đĩa, và cảm nhận tay mình đang chạm vào đúng cái nghề mà Bùi Thị Hý đã làm từ năm trăm năm trước.
Đây là trải nghiệm hiếm có, không phải chỉ mua đồ lưu niệm, mà là tự tay làm một mảnh nhỏ của lịch sử văn hóa Việt Nam đang sống lại.
Làng gốm Chu Đậu là câu chuyện về một nghề thủ công có thể chết đi nhưng không bao giờ mất hẳn. Nó ngủ lại trong đất, trong lòng đại dương, trong các bảo tàng quốc tế, và chờ ngày được đánh thức.
Và khi cả nhà đứng trong xưởng, nhìn bàn tay nghệ nhân nhẹ nhàng vuốt đất trên bàn xoay, nghe tiếng sét ướt chạm tay, mùi đất nung thoảng trong không khí, thì sẽ hiểu rằng không có thứ gì thực sự mất đi, chỉ là đang chờ người đến tìm.