Lăng Tự Đức
Cả nhà thử hình dung: một ông vua ngồi trên nhà thủy tạ, bóng tháp cây soi xuống mặt hồ phẳng lặng, xung quanh là thông xanh và núi im. Trong tay có bút. Trước mặt có giấy. Vua làm thơ.
Đó là Tự Đức, vua thứ tư nhà Nguyễn, người trị vì lâu nhất triều đại này, ba mươi sáu năm từ năm một nghìn tám trăm bốn mươi bảy đến năm một nghìn tám trăm tám mươi ba. Nhưng cũng là ông vua cô đơn nhất: không có con ruột, thể chất yếu từ bé vì bệnh đậu mùa, và gánh trên vai một triều đình đang lung lay trước làn sóng xâm lược của Pháp. Tất cả nỗi ấy ông gửi vào thơ, người ta ước tính vua sáng tác hàng nghìn bài thơ chữ Hán và chữ Nôm.
Khiêm Lăng, tên chính thức của lăng Tự Đức, nằm khoảng năm kilômét về phía nam trung tâm Huế. Đây là một trong mười lăm công trình tiêu biểu thuộc Quần thể Di tích Cố đô Huế mà UNESCO ghi danh năm một nghìn chín trăm chín mươi ba.
Nhưng trước khi nói về lăng, cả nhà hãy nghe câu chuyện về cái tên. Năm một nghìn tám trăm sáu mươi tư, vua Tự Đức ba mươi sáu tuổi, biết rõ mình không có con, huy động ba nghìn binh lính và thợ thuyền để xây một khu cung điện cho mình nghỉ ngơi khi còn sống, và đồng thời sẽ là lăng mộ sau khi mất. Vua đặt tên là Vạn Niên Cơ, nghĩa là cơ nghiệp muôn năm. Lao dịch nặng nề, dân và thợ khổ cực.
Năm một nghìn tám trăm sáu mươi sáu, anh em họ Đoàn, Đoàn Hữu Trưng, Đoàn Trực và những người khác, lãnh đạo dân thợ nổi dậy, dùng chày vôi làm vũ khí tràn vào Hoàng cung. Đây là sự kiện mà sử ghi là loạn Chày Vôi. Cuộc nổi dậy bị dập tắt. Nhưng điều đáng chú ý là phản ứng của vua Tự Đức: ông không trả thù mà đổi tên Vạn Niên Cơ thành Khiêm Cung, nghĩa là cung điện khiêm tốn, và giảm bớt lao dịch, gia ân cho dân. Từ đó, gần năm mươi công trình trong lăng đều có chữ Khiêm trong tên, như một lời nhắc vua luôn giữ lòng khiêm tốn.
Bước vào Khiêm Lăng hôm nay, điều đầu tiên cả nhà sẽ cảm nhận là vẻ đẹp thơ mộng khác hẳn lăng Minh Mạng uy nghi đối xứng hay lăng Khải Định lung linh cẩn sành sứ. Đây là cảnh quan gần với thiên nhiên hơn: bố cục không đối xứng tuyệt đối mà đi theo địa hình tự nhiên, mặt nước và cây xanh hài hoà với kiến trúc.
Khu vực nổi bật nhất là hồ Lưu Khiêm. Giữa hồ có đảo Tịnh Khiêm, nơi xưa vua cho nuôi muông thú quý và trồng hoa thưởng ngoạn. Trên hồ có Xung Khiêm Tạ, nhà thủy tạ sàn gỗ mái cong, nơi vua đọc sách uống trà và làm thơ. Cả nhà có thể thử ngồi yên một lúc ở đây, nhìn bóng thông xanh in xuống mặt nước, và cảm nhận cái cô đơn thi sĩ mà một ông vua cuối thời phong kiến đã từng ngồi đây chịu đựng, trong khi ngoài kia Pháp đang từng bước chiếm đất nước.
Điện Hòa Khiêm là nơi vua làm việc khi đến lăng. Sau khi Tự Đức mất, điện trở thành nơi thờ vua và Hoàng hậu Lệ Thiên Anh. Phía sau là điện Lương Khiêm, nơi thờ Thái Hậu Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức, người nổi tiếng đức độ.
Nhưng điểm đặc biệt nhất của Khiêm Lăng không phải cảnh hồ hay điện thờ. Đó là tấm bia trong Bi Đình.
Bia Khiêm Cung Ký. Nặng ba mươi tấn. Khắc bốn nghìn ba trăm chín mươi lăm chữ Hán. Và đặc biệt hơn tất cả: đây là bút tích của chính vua Tự Đức tự viết, bài tự thuật duy nhất trong các lăng triều Nguyễn mà vua để lại chữ của chính mình. Trong bài, vua kể về những công trạng, nhưng cũng thẳng thắn nhận tội: để mất Nam Kỳ Lục Tỉnh, không cải cách kịp, bệnh tật làm vô sinh không trị nước đủ minh. Một ông vua đặt bia tự nhận tội. Đó là điều hiếm thấy trong lịch sử các vua phong kiến Việt Nam hay Trung Hoa.
Khu Bửu Thành là nơi mộ vua. Cả nhà lưu ý: theo truyền thuyết, và tôi nhấn mạnh đây là truyền thuyết chưa được nguồn lịch sử nào khẳng định hoàn toàn, mộ thật của Tự Đức được giấu kín ở một vị trí bí mật khác trong lăng để chống trộm mộ, sau khi an táng xong. Vị trí thật đến nay vẫn chưa ai xác định được. Cả nhà tự đánh giá.
Khu lăng phụ có lăng Hoàng hậu Lệ Thiên Anh, vợ chính vua Tự Đức, người đã ở bên cạnh vua suốt cuộc đời, và lăng vua Kiến Phúc, con nuôi của Tự Đức lên ngôi năm một nghìn tám trăm tám mươi ba nhưng chỉ trị vì tám tháng rồi mất khi mới mười bốn tuổi.
Rời Khiêm Lăng, cả nhà hãy nhớ điều này. Đây không chỉ là nơi an táng của một ông vua. Đây là nơi một người đàn ông cô đơn tài hoa và đầy ưu tư đã tự tay thiết kế không gian sống và không gian chết của mình, đặt vào đó cả nỗi buồn thơ ca lẫn những tội lỗi mà ông không thể tránh. Tấm bia ba mươi tấn với bút tích tự thú của vua. Đó là di sản tinh thần của Khiêm Lăng.