Mộ Trần Quý Cáp
Ông đi khắp các làng trong tỉnh Quảng Nam, và đến đâu, tiếng trống cũng vang lên trước. Ông cho đánh trống để gọi bà con lại, rồi đứng giữa đám đông mà nói. Ông nói về chuyện học: học chữ mới, học nghề thực dụng, bỏ những thói cũ không còn hợp, để làng mình khá lên.
Người đánh trống ấy là Trần Quý Cáp, một vị tiến sĩ, mà lại không ra làm quan.
Ông sinh năm một nghìn tám trăm bảy mươi, ở làng Bất Nhị, vùng đất Điện Bàn xưa, nay là xã Điện Bàn Tây của thành phố Đà Nẵng. Nhà ông làm ruộng. Hồi nhỏ ông tên là Nghị, lớn lên mới đổi thành Quý Cáp. Ông học ở trường Đốc, trong nhóm sáu học trò giỏi của thầy Đốc học Trần Đình Phong, và hai người bạn cùng nhóm ấy về sau trở thành tên tuổi lớn: Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng.
Đường thi cử của ông không hề êm xuôi. Ông thi Hương nhiều lần mà không đỗ. Mãi đến năm một nghìn chín trăm lẻ bốn, khi đã ba mươi bốn tuổi, ông mới được đặc cách vào thi Hội, thi Đình, và đỗ tiến sĩ, cùng khoa với Huỳnh Thúc Kháng. Ai cũng tưởng từ đây con đường làm quan đã mở rộng. Nhưng ông quay sang đánh trống, đi diễn thuyết, kêu gọi mở mang dân trí. Có lúc chính quyền Nam triều còn cấm ông diễn thuyết.
Năm một nghìn chín trăm lẻ năm, ba người bạn, Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng, cùng nhau đi một chuyến về phía nam. Đến Bình Định, ba người làm thơ, làm phú chê lối học chỉ để đi thi, rồi ký chung một cái tên là Đào Mộng Giác. Quan lại trong triều đọc xong thì hốt hoảng. Phong trào của họ có một khẩu hiệu mà bây giờ vẫn còn được nhắc: mở mang hiểu biết của dân, nâng cao tinh thần của dân, và làm cho đời sống của dân đầy đủ hơn.
Sau đó ông nhận chức giáo thọ phủ Thăng Bình, một chức trông coi việc học. Người ta kể rằng ông nhận chức vì nhà khó khăn và còn mẹ già phải nuôi, sau khi bạn bè khuyên nhiều lần. Ngay trong trường của phủ, ông mở lớp dạy chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Hôm nay, cả nhà đọc báo, đọc truyện bằng chữ quốc ngữ như điều hiển nhiên, nhưng thời ấy, đưa thứ chữ này vào lớp học là chuyện rất mới.
Các trường duy tân thời ấy không chỉ dạy chữ. Học trò được học những điều thường thức về khoa học, học lịch sử, địa lý, học hát, học thể dục, và còn tập đứng lên nói trước mọi người. Trường còn bàn chuyện bỏ những hủ tục và mê tín, và nhiều người đi cắt tóc ngắn. Cách dạy ấy lan sang các trường ở Diên Phong, Phú Lâm, Phước Bình. Phong trào Duy Tân còn khuyến khích lập hội nông, hội buôn, để người dân có thêm đường làm ăn. Phan Châu Trinh gọi bạn mình là lãnh tụ trong làng tân học.
Nhưng càng nhiều người theo học, những người cầm quyền càng lo ngại. Họ điều ông vào làm giáo thọ ở Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, xa quê nhà và xa những lớp học ông đã gây dựng.
Năm một nghìn chín trăm lẻ tám, ở quê ông nổi lên phong trào chống sưu thuế. Ông gửi thư cho bạn bè ở Quảng Nam, và lá thư ấy bị đem ra làm cớ. Ông bị bắt, bị giam ở Diên Khánh, rồi bị kết án tử hình, một bản án mà người ta nói là chẳng cần chứng cứ. Trước khi ra đi, ông xin được từ biệt bà con, bè bạn, và nhắc đến mẹ già. Ông mất ngày mười lăm tháng sáu năm ấy, ở bãi sông Cạn, lúc mới ba mươi tám tuổi. Phan Châu Trinh cho rằng bản án ấy có nhiều điều oan.
Bạn bè khóc ông bằng thơ và câu đối. Huỳnh Thúc Kháng viết rằng bạn mình làm quan là vì mẹ, chứ không vì tiền. Người dân Diên Khánh lặng lẽ lo hương khói cho phần mộ nơi ông nằm. Rất lâu sau, năm một nghìn chín trăm bảy mươi, nhân dân Khánh Hòa dựng một ngôi đền thờ ngay nơi ông mất, và ngôi đền ấy ngày nay cũng là di tích quốc gia.
Còn quê hương thì chờ ông về. Năm một nghìn chín trăm hai mươi lăm, người học trò Trần Huỳnh Sách cùng thân nhân đưa hài cốt thầy về làng Bất Nhị, đặt ở nghĩa trang Gò Bướm. Trên phần mộ có đôi câu đối của Phan Bội Châu và bài minh của Huỳnh Thúc Kháng, hai người cùng chí hướng với ông.
Ngày nay, mộ Trần Quý Cáp là di tích lịch sử cấp quốc gia, nằm ở xã Điện Bàn Tây, thành phố Đà Nẵng. Cũng ở xã này, ngày ba mươi tháng sáu năm hai nghìn không trăm hai mươi sáu, nhân một trăm mười tám năm ngày ông mất, người ta khánh thành một nhà lưu niệm. Nơi đó trưng bày những hiện vật được phục dựng, tư liệu về cuộc đời ông và phong trào Duy Tân, cùng sách báo liên quan. Khi cả nhà ghé thăm, cứ đi chậm lại, đọc từng dòng, như thể đang đi theo ông qua từng ngôi làng.
Người từng đi khắp các làng đánh trống gọi bà con đến học, cuối cùng nằm lại ở chính làng mình.