Nhà hát Lớn Hà Nội
Dưới chân Nhà hát Lớn Hà Nội có cả một khu rừng mà chưa khán giả nào từng nhìn thấy. Cuối thế kỷ mười chín, chỗ nhà hát đứng hôm nay còn là một vùng đầm lầy, thuộc đất của hai làng Thạch Tần và Tây Luông. Đất ở đó mềm và sũng nước.
Bây giờ, trên vùng đất mềm ấy, một toà nhà kiểu Pháp vươn đỉnh mái lên cao ba mươi tư mét so với mặt đường, nhìn ra một quảng trường rộng. Toà nhà đã đứng vững hơn một trăm năm, qua không biết bao nhiêu lần tấm màn sân khấu kéo lên rồi hạ xuống.
Câu chuyện bắt đầu từ năm một nghìn tám trăm chín mươi chín. Hội đồng thành phố Hà Nội thời ấy đề xuất xây một nhà hát làm chỗ giải trí cho giới chức người Pháp. Bản thiết kế do hai kiến trúc sư người Pháp là Broyer và Harlay thực hiện, về sau kiến trúc sư François Lagisquet bổ sung thêm hoạ đồ. Hai hãng thầu Travary và Savelon nhận phần xây dựng.
Họ lấy mẫu từ Nhà hát Opéra Garnier lừng lẫy ở Paris, nhưng thu nhỏ lại và chọn vật liệu hợp với khí hậu nơi đây. Ngày bảy tháng sáu năm một nghìn chín trăm lẻ một, công trình khởi công.
Việc khó đầu tiên là giữ cho toà nhà khỏi lún xuống vùng đất mềm. Người ta đóng ba mươi lăm nghìn cây cọc tre xuống lòng đất, rồi đổ lên trên một lớp bê tông dày chín mươi phân. Đó chính là khu rừng dưới chân nhà hát: cả một rừng tre cắm xuống bùn, san sát nhau, gánh trên lưng cả một toà nhà.
Phần khung, dầm và trần làm hoàn toàn bằng kim loại, không dùng đến gỗ. Đến khi gần xong, chi phí ước tính lên tới khoảng hai triệu franc.
Mười năm sau, năm một nghìn chín trăm mười một, nhà hát hoàn thành. Tối chín tháng mười hai năm ấy, sân khấu sáng đèn lần đầu với vở hài kịch Chuyến đi của ông Perrichon. Tiền quan khách hảo tâm góp trong đêm khai trương được nhóm kịch dành để giúp những đứa trẻ lang thang trên phố. Đêm đầu tiên của nhà hát mở ra bằng tiếng cười, và bằng một tấm lòng.
Mặt tiền nhà hát giống như một trang sách kiến trúc mở ra giữa phố. Hàng cột Ionic đứng cân xứng. Ban công, những ô cửa vòm và các phù điêu được trang trí theo lối Baroque. Trên cao, mái dốc kiểu Mansard lợp ngói đen.
Bước qua bậc thềm vào sảnh chính, một cầu thang hình chữ T ốp đá hiện ra trước mắt, nền dưới chân lát đá cẩm thạch. Đèn chùm mạ vàng, đèn tường bằng đồng kiểu cổ. Lên tầng hai là Phòng Gương, những tấm gương xen giữa các ô cửa sổ, nơi từng diễn ra các buổi chiêu đãi trọng thể.
Khán phòng chính nằm phía sau, gần như vuông vức. Ba tầng ghế xếp hình móng ngựa ôm lấy sân khấu, tầng trên cùng là những lô ghế riêng. Trên trần là những bức tranh do các hoạ sĩ người Pháp vẽ. Người ta ví khán phòng này như một chiếc hộp nhạc. Thuở ban đầu, nơi đây có tám trăm bảy mươi chỗ ngồi.
Có một thời, tấm màn kéo trên sân khấu làm bằng vải thô, mang hình Tháp Rùa giữa hồ Gươm. Về sau, nó được thay bằng màn vải sa tanh.
Ngày hai mươi hai tháng mười năm một nghìn chín trăm hai mươi mốt, trên chính sân khấu này, vở Chén thuốc độc của tác giả Vũ Đình Long ra mắt. Đó là vở kịch nói đầu tiên do người Việt Nam viết. Từ đêm ấy, sân khấu kịch nói Việt Nam có ngày sinh của mình.
Rồi đến tháng tám năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, quảng trường trước nhà hát trở thành nơi hẹn của cả thành phố. Chiều mười bảy tháng tám, giữa một cuộc mít tinh của Tổng hội viên chức, cán bộ Việt Minh lên diễn đàn, và một lá cờ đỏ sao vàng thật lớn buông xuống từ nhà hát.
Hai ngày sau, từ tờ mờ sáng mười chín tháng tám, dòng người từ khắp các ngả kéo về trung tâm, cờ và biểu ngữ rợp phố. Trong đoàn người ấy có chàng nhạc sĩ hai mươi hai tuổi Đỗ Xuân Oanh. Anh vừa đi vừa sáng tác, vừa hát cho những người bên cạnh hát theo. Khi tới Nhà hát Lớn, bài hát Mười chín tháng Tám đã hoàn chỉnh.
Mười một giờ trưa, người ta ước chừng khoảng hai trăm nghìn người đứng kín quảng trường. Buổi mít tinh mở đầu bằng nghi lễ chào cờ và bài Tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao, bài hát về sau trở thành Quốc ca Việt Nam. Rồi đám đông chia thành nhiều đoàn, toả đi khắp thành phố, tới Phủ Khâm sai Bắc Kỳ, Toà Thị chính, Trại Bảo an binh.
Ngày hai tháng ba năm một nghìn chín trăm bốn mươi sáu, Quốc hội khoá một của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà họp phiên đầu tiên ngay trong nhà hát. Cuối năm ấy, cũng tại đây, Quốc hội thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam.
Năm một nghìn chín trăm chín mươi tư, khoảng sân rộng trước nhà hát được đặt tên chính thức là Quảng trường Cách mạng Tháng Tám. Từ năm một nghìn chín trăm chín mươi lăm đến năm một nghìn chín trăm chín mươi bảy, nhà hát được trùng tu lớn, khôi phục tối đa diện mạo nguyên gốc. Công việc hoàn thành đúng dịp Hội nghị Pháp ngữ tổ chức tại Hà Nội vào tháng mười một năm một nghìn chín trăm chín mươi bảy. Khán phòng sau trùng tu còn gần sáu trăm ghế bọc nhung.
Năm hai nghìn không trăm mười một, tròn một trăm tuổi, Nhà hát Lớn được xếp hạng di tích quốc gia. Mười năm sau nữa, vở Chén thuốc độc được dựng lại và diễn trên đúng sân khấu này, một trăm năm sau đêm ra mắt.
Ban ngày, các đôi uyên ương đứng trên bậc thềm chụp ảnh cưới. Buổi tối, khi đèn chiếu sáng mặt tiền, toà nhà như khoác một chiếc áo khác.
Lúc ấy, hàng cột Ionic sáng rực, mái ngói đen in lên nền trời đêm. Người đứng giữa quảng trường ít ai nghĩ tới vùng đầm lầy năm xưa của làng Thạch Tần, làng Tây Luông, hay tới khu rừng tre cắm sâu dưới lớp bê tông. Vậy mà chính khu rừng không ai nhìn thấy ấy đã gánh cả toà nhà trên lưng, để tấm màn sân khấu bao lần được kéo lên.