Phố cổ Hà Nội
Hà Nội ba mươi sáu phố phường.
Cả nhà đã nghe câu này rồi. Nhưng "ba mươi sáu" là con số ước lệ, thực tế số phố luôn nhiều hơn ba mươi sáu và thay đổi qua từng thời kỳ. Tên gọi này được phổ biến trong tiếng Việt hiện đại nhờ tập bút ký cùng tên của nhà văn Thạch Lam xuất bản năm một nghìn chín trăm bốn mươi ba. Trước Thạch Lam, trong ca dao Hà Nội đã có câu "Hà Nội ba mươi sáu phố phường", nhưng nhờ Thạch Lam mà nó được nhiều người biết hơn.
Khu phố cổ Hà Nội hình thành từ thế kỷ mười một, cùng với kinh thành Thăng Long của vua Lý Thái Tổ. Phía đông và đông bắc kinh thành là khu vực thương mại, nơi các thợ thủ công từ các làng nghề quanh kinh đô tụ về để cung cấp hàng cho triều đình và cư dân. Mỗi nhóm thợ từ một làng lập thành một "phường", nhóm người cùng nghề, cùng quê. Mỗi phường chuyên một mặt hàng. Phố nào bán mặt hàng đó, và tên phố phản ánh mặt hàng ấy.
Phố Hàng Đào: bán tơ vải nhuộm điều đỏ, "đào" trong tiếng Nôm là màu đỏ. Phố Hàng Bạc: thợ bạc từ làng Trâu Khê ở Hải Dương tập trung về, được vua giao đúc bạc nén cho triều đình. Phố Hàng Đường: bán đường mật. Phố Hàng Mắm: bán mắm. Phố Hàng Buồm: bán buồm thuyền. Phố Hàng Mã: bán đồ mã.
Hôm nay, khoảng một phần ba số phố Hàng vẫn còn bán đúng hoặc gần đúng mặt hàng truyền thống. Hàng Bạc vẫn là phố vàng bạc. Hàng Mã vẫn bán đồ mã và đèn lồng. Hàng Thiếc vẫn bán đồ thiếc. Nhưng Hàng Buồm không còn bán buồm, vì thuyền buồm đã không còn đi trên sông Hồng. Hàng Khoai không còn bán khoai, và nếu bán thì cũng chẳng ai mua theo lối cũ nữa.
Đó là sự thay đổi tự nhiên. Khu phố cổ vẫn là khu dân cư đang sống và thở, không phải bảo tàng ngoài trời.
Năm hai nghìn không bốn, Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng khu phố cổ là Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Không phải Di tích quốc gia đặc biệt, đây là điểm quan trọng cần phân biệt. Trong khu có một trăm hai mươi mốt di tích đình, đền, chùa, hội quán, miếu xen lẫn nhà ở.
Điểm dừng chân không thể bỏ qua đầu tiên là số bốn mươi tám Hàng Ngang. Ngôi nhà ba tầng đó trông bình thường như mọi ngôi nhà trên phố, nhưng đây là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập trong mùa hè năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, sau khi từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Bản Tuyên ngôn đó được đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày hai tháng chín, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhà số bốn mươi tám Hàng Ngang nay là di tích lịch sử quốc gia.
Cách đó không xa là nhà cổ số tám mươi bảy Mã Mây, một trong những ngôi nhà ống truyền thống còn nguyên vẹn nhất Hà Nội. Xây cuối thế kỷ mười chín, diện tích một trăm năm mươi bảy phẩy sáu mét vuông nhưng mặt tiền chỉ năm mét và sâu hai mươi tám mét. Đây là cấu trúc điển hình: mặt tiền hẹp vì thuế đất xưa tính theo bề ngang mặt phố, nhưng nhà rất sâu để có nhiều không gian sinh hoạt. Bố cục đi từ trước ra sau: cửa hàng, sân nhỏ, nhà thờ kiêm phòng khách, sân giếng trời lớn, rồi buồng ngủ và bếp phía sau. Toàn bộ kết cấu chính bằng gỗ, tường gạch vữa vôi truyền thống. Năm một nghìn chín trăm chín mươi chín, thành phố Toulouse của Pháp hỗ trợ Hà Nội phục dựng ngôi nhà này làm mẫu bảo tồn. Năm hai nghìn không bốn, nhà được xếp hạng Di tích cấp quốc gia.
Phía bờ đông hồ Hoàn Kiếm, trong con phố nhỏ Hàng Buồm, là Đền Bạch Mã, một trong bốn đền Thăng Long Tứ Trấn, trấn phía đông kinh thành, thờ thần Long Đỗ, thành hoàng của Hà Nội cổ.
Cuối hành trình là Ô Quan Chưởng, cổng thành cuối cùng còn lại của thành Hà Nội thời Lê và Nguyễn. Xây năm một nghìn bảy trăm bốn mươi chín. Các cổng khác như Ô Cầu Giấy, Ô Đống Mác, Ô Chợ Dừa đều đã bị phá để xây phố Tây. Chỉ còn Ô Quan Chưởng đứng lại. Tên gọi theo truyền thuyết gắn với một viên quan chưởng cơ đã chỉ huy lính tử thủ tại cổng khi Pháp đánh thành năm một nghìn tám trăm bảy mươi ba và hy sinh tại đây. Người dân gọi cổng theo tên ông để tưởng nhớ.
Ô Quan Chưởng vẫn đứng đó, giữa dòng xe máy ầm ào, trầm lặng và vững chắc như chưa từng có gì thay đổi. Đó là khu phố cổ Hà Nội, cả nhà ơi, gần một nghìn năm tuổi và vẫn đang sống từng ngày. ---