Chuyen.AIPlaylist
Hà Nội

Phố cổ Hà Nội

0:000:00

Hà Nội ba mươi sáu phố phường. Câu ấy quen đến mức em bé nào cũng thuộc. Ấy vậy mà, nếu đi đếm từng con phố trong khu phố cổ, chẳng ai đếm được vừa tròn ba mươi sáu.

Bởi ba mươi sáu chỉ là con số ước lệ, một cách nói cho tròn, cho dễ nhớ. Số phố thật luôn nhiều hơn thế, và cứ đổi thay qua từng thời kỳ. Câu ấy vốn đã có trong ca dao Hà Nội. Rồi năm một nghìn chín trăm bốn mươi ba, tập bút ký cùng tên của nhà văn Thạch Lam được in thành sách, và câu nói ấy càng được nhiều người biết đến.

Câu chuyện bắt đầu từ thế kỷ mười một, khi vua Lý Thái Tổ dựng kinh thành Thăng Long. Khu phố cổ hình thành cùng lúc với kinh thành ấy. Phía đông và đông bắc kinh thành là đất buôn bán. Thợ thủ công từ các làng nghề quanh kinh đô tụ về, làm hàng cho triều đình và cho dân kinh kỳ.

Người cùng làng, cùng nghề thì ở chung một chỗ, lập thành một phường, chuyên một mặt hàng. Phường làm gì, phố bán nấy, và tên phố cứ thế mà thành.

Phố Hàng Đào bán tơ vải nhuộm màu điều đỏ, vì chữ đào trong tiếng Nôm chỉ màu đỏ. Phố Hàng Đường bán đường mật. Phố Hàng Mắm bán mắm. Phố Hàng Buồm bán buồm cho thuyền. Phố Hàng Mã bán đồ mã. Đọc một lượt tên phố, nghe như tờ giấy đi chợ của người Thăng Long xưa.

Phố Hàng Bạc thì có chuyện riêng. Thợ bạc làng Trâu Khê ở đất Hải Dương tụ về đây, được vua giao việc đúc bạc nén cho triều đình. Đi qua con phố ấy, cứ tưởng như còn nghe tiếng búa nhỏ gõ lên bạc của những người thợ năm xưa.

Hôm nay, vẫn còn những phố Hàng bán đúng hoặc gần đúng mặt hàng ngày trước. Hàng Bạc vẫn là phố vàng bạc. Hàng Mã vẫn bày đồ mã và đèn lồng. Hàng Thiếc vẫn bán đồ thiếc. Nhưng Hàng Buồm thì đã thôi bán buồm từ lâu. Hàng Khoai cũng chẳng còn bán khoai.

Phố đổi nghề, nhưng không ngủ quên. Khu phố cổ chưa bao giờ là một bảo tàng ngoài trời, mà là nơi người ta vẫn sống, vẫn thở cùng nhịp với thành phố.

Năm hai nghìn không trăm lẻ bốn, Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng khu phố cổ là Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Giữa những dãy nhà san sát có tới một trăm hai mươi mốt di tích đình, đền, chùa, hội quán, miếu, nằm xen giữa nhà ở.

Cuộc dạo chơi có thể bắt đầu từ số bốn mươi tám Hàng Ngang. Ngôi nhà ấy trông như bao ngôi nhà khác trên phố. Vậy mà mùa hè năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, sau khi từ chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập ngay trong ngôi nhà này. Ngày hai tháng chín năm ấy, bản Tuyên ngôn được đọc tại Quảng trường Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngôi nhà nay là di tích lịch sử quốc gia.

Đi thêm một quãng không xa là nhà cổ số tám mươi bảy Mã Mây, một trong những ngôi nhà ống truyền thống còn nguyên vẹn nhất Hà Nội, dựng vào cuối thế kỷ mười chín. Đứng ngoài hè, cả nhà sẽ thấy mặt tiền chỉ rộng năm mét. Nhưng bước vào rồi thì cứ đi mãi, sâu tới hai mươi tám mét, trên diện tích một trăm năm mươi bảy phẩy sáu mét vuông.

Vì sao nhà lại hẹp và sâu đến thế? Ngày xưa, thuế đất tính theo bề ngang mặt phố, nên người ta làm mặt tiền thật hẹp, rồi kéo nhà vào thật sâu để có chỗ mà sống.

Đi từ ngoài vào trong là đi qua cả một nếp nhà. Đầu tiên là gian cửa hàng sát mặt phố, rồi một khoảng sân nhỏ, rồi gian thờ kiêm nơi tiếp khách. Tiếp đến là sân giếng trời lớn, nơi ánh sáng từ trên cao rơi thẳng xuống lòng nhà. Sau cùng là gian bếp, còn buồng ngủ thì ở trên tầng hai. Khung nhà chính bằng gỗ, tường gạch xây vữa vôi theo lối xưa.

Năm một nghìn chín trăm chín mươi chín, thành phố Toulouse của nước Pháp hỗ trợ Hà Nội phục dựng ngôi nhà này làm mẫu bảo tồn. Ngày mười sáu tháng hai năm hai nghìn không trăm lẻ bốn, nhà được xếp hạng Di tích cấp quốc gia, cùng năm với cả khu phố cổ.

Rẽ sang phố Hàng Buồm, ở số bảy mươi sáu, là Đền Bạch Mã. Đây là một trong Thăng Long Tứ Trấn, những ngôi đền trấn giữ kinh thành, và Bạch Mã giữ phía đông. Đền thờ thần Long Đỗ, vị thành hoàng của Hà Nội cổ. Ngoài cổng, phố xá tấp nập. Bên trong, một khoảng lặng rất xưa.

Phố cổ còn có chợ Đồng Xuân, dựng lên vào khoảng năm một nghìn tám trăm tám mươi chín, thời Pháp thuộc. Năm một nghìn chín trăm chín mươi bốn, một trận cháy lớn quét qua ngôi chợ. Từ năm một nghìn chín trăm chín mươi lăm, chợ được dựng lại, và rồi tiếng mua bán lại rộn ràng dưới mái chợ.

Cuối cuộc dạo chơi là Ô Quan Chưởng, cửa ô cuối cùng còn đứng lại của thành Hà Nội thời Lê và thời Nguyễn. Cổng được xây năm một nghìn bảy trăm bốn mươi chín, dưới đời vua Lê niên hiệu Cảnh Hưng, rồi được trùng tu năm một nghìn tám trăm mười bảy, thời Nguyễn. Những cửa ô khác như Ô Cầu Giấy, Ô Đống Mác, Ô Chợ Dừa đều đã bị phá đi để mở những con phố kiểu Tây. Chỉ một mình Ô Quan Chưởng ở lại.

Người xưa kể rằng cái tên ấy gắn với một viên quan chưởng cơ. Chuyện kể, năm một nghìn tám trăm bảy mươi ba, khi quân Pháp đánh thành Hà Nội, ông đã chỉ huy binh lính tử thủ ngay tại cổng này và ngã xuống ở đây. Người dân thương ông, gọi cổng là Ô Quan Chưởng để nhớ ông.

Lần tới về phố cổ, cả nhà cứ thử đếm từng tấm biển tên phố, đếm mãi vẫn chẳng dừng ở ba mươi sáu. Còn Ô Quan Chưởng vẫn đứng đó giữa dòng xe máy ầm ào, trầm lặng và vững chãi, trong khi quanh nó, phố phường cả nghìn năm tuổi lần lượt lên đèn.

Câu chuyện gần đây