Chuyen.AIPlaylist
Hà Nội

Nhà hát Múa rối Thăng Long

0:000:00

Ở Nhà hát Múa rối Thăng Long, những người diễn giỏi nhất lại là những người khán giả không bao giờ nhìn thấy mặt. Sân khấu rối nước ở đây cũng chẳng có tấm ván sàn nào. Sân khấu là một mặt nước. Còn diễn viên chính thì làm bằng gỗ, có con nặng tới mười ki lô gam, vậy mà vẫn chạy, vẫn nhảy, vẫn bơi như có hơi thở riêng.

Nghe thì giống một câu đố. Con rối gỗ làm sao tự đi trên nước? Người điều khiển nó trốn ở đâu? Và vì sao một nhà hát lại chọn nước làm sàn diễn?

Nhà hát nằm ở số năm mươi bảy B phố Đinh Tiên Hoàng, sát bên Hồ Gươm. Trong khán phòng, một mặt nước khác đang chờ dưới ánh đèn. Phía sau nó là thủy đình, tức nhà rối, với một tấm mành tre mỏng buông xuống. Tấm mành ấy giữ lời giải của hai câu đố đầu tiên.

Đằng sau tấm mành tre là khoảng hai mươi nghệ nhân đang đứng ngâm mình dưới nước. Chỗ họ đứng gọi là buồng trò. Họ cầm sào, kéo dây, đưa con rối đi từ phía dưới mặt nước. Khán giả chỉ thấy con rối lướt tới, quay đầu, vẫy tay. Còn người tạo ra từng bước đi ấy thì giấu mình sau mành suốt cả buổi diễn. Có những con rối lớn cao tới một mét, phải bốn người cùng điều khiển mới cử động nổi.

Cây sào điều khiển ngày xưa là một cây tre hoặc cây gỗ dài khoảng ba đến bốn mét, một đầu gắn con rối. Máy móc ấy nằm khuất dưới nước. Bởi thế mà nhìn từ hàng ghế, con rối như tự mình sống dậy.

Con rối ngày nay thường được tạc từ gỗ nhẹ như vàng tâm, gỗ dổi để dễ nổi, rồi phủ sơn ta. Nhiều con do chính tay người múa rối làm ra.

Câu đố thứ ba thì phải tìm lời giải xa hơn nhiều. Múa rối nước là nghệ thuật dân gian chỉ có ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, hình thành từ thời nhà Lý. Triều Lý kéo dài từ năm một nghìn không trăm lẻ chín đến năm một nghìn hai trăm hai mươi lăm. Nghệ thuật ấy ra đời cùng nền văn minh lúa nước. Người ta cho rằng những buổi diễn đầu tiên được dựng ngay trên ruộng lúa đã gặt, cho nước vào làm sân khấu.

Dấu vết bằng chữ sớm nhất về rối nước nằm trên tấm bia tháp Sùng Thiện Diên Linh, dựng năm một nghìn một trăm hai mươi mốt. Văn bia tả cảnh trên mặt sóng dập dờn, người ta thả một con rùa vàng đội ba ngọn núi trên lưng. Rồi có thần tiên, có chim quý họp bầy, có hươu lành thành đội.

Buổi diễn ở nhà hát mở màn bằng một nhân vật quen thuộc: chú Tễu. Chú trẻ trung, hồn nhiên, là người dẫn chuyện trên mặt hồ. Ngồi bên cạnh buồng trò là các nhạc công và nghệ sĩ hát, đọc lời thoại. Tiếng nhạc sống vang lên, và mặt nước bắt đầu xao động.

Nhà hát vẫn giữ mười bảy tích trò cổ truyền. Rối nước có những trò quen như cày cấy, chăn vịt, chọi trâu, câu ếch, múa rồng, múa lân, kể lại đời sống lao động và tình làng nghĩa xóm. Có lúc, giữa tiếng chũm chọe rộn rã, một con rồng gỗ bỗng nhô lên từ mặt nước. Các bạn nhỏ hẳn sẽ nín thở chờ xem nó bơi về phía nào.

Ngay cạnh Hồ Gươm, khán giả còn được xem tích trò gắn với truyền thuyết của hồ. Người xưa kể rằng vua Lê dạo thuyền trên hồ thì Rùa Vàng nổi lên, xin lại thanh gươm thần. Chuyện dân gian ấy được kể bằng những con rối gỗ, chỉ cách mặt hồ thật mấy bước chân.

Nhưng nhà hát không phải lúc nào cũng có sân khấu nước của riêng mình. Ngày mười tháng mười năm một nghìn chín trăm sáu mươi chín, nhà hát ra đời với tên Đoàn Nghệ thuật Kim Đồng, thuộc Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội. Đoàn chuyên diễn rối cạn cho thiếu nhi Thủ đô.

Những ngày đầu, đoàn ở dưới tầng hầm của Sở, số bốn mươi bảy Hàng Dầu. Con rối và dụng cụ được chở đi diễn bằng xe ba gác. Có lúc sân khấu là bể bơi Quân đội, có lúc lại là thủy đình của đền Ngọc Sơn. Những vở đầu tiên rất gần gũi với trẻ em, như Thỏ và Rùa, Con Mèo Lười.

Năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm, đoàn đổi tên thành Đoàn múa rối Hà Nội, và có nhà văn Tô Hoài, nhạc sĩ Văn Cao cùng góp sức. Tháng tám năm hai nghìn không trăm lẻ một, đoàn mang tên mới, Nhà hát Múa rối Thăng Long. Ngày nay, nhà hát có trụ sở ở phố Đinh Tiên Hoàng, với rạp diễn, thủy đình và sân khấu riêng.

Bây giờ, ánh đèn ở đây gần như không tắt. Nhà hát biểu diễn liên tục ba trăm sáu mươi lăm ngày mỗi năm, và từng được ghi nhận là nhà hát duy nhất ở châu Á diễn kín cả năm như thế.

Khi đi xa, nhà hát phải mang theo cả sân khấu của mình: một bể nước lưu động, cần khoảng sáu mươi mét khối nước bơm vào thật nhanh. Đoàn cũng từng lên tận Lâm Hà, ở Lâm Đồng, mang những con rối tới cho đồng bào vùng xa. Ở những vùng sâu vùng xa như thế, có khán giả đã đi bộ hàng chục cây số, có nhóm đốt đuốc đi suốt đêm, chỉ để được xem đoàn biểu diễn.

Những con rối ấy đã đi diễn ở hơn bốn mươi quốc gia. Cuối năm hai nghìn không trăm hai mươi tư, khi tròn năm mươi lăm năm thành lập, nhà hát đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba.

Giờ thì câu đố đã có lời giải. Con rối gỗ đi được trên nước nhờ cây sào, sợi dây và đôi tay người dưới nước. Người diễn trốn sau tấm mành tre. Còn nước làm sàn diễn, vì nghệ thuật này lớn lên từ đồng lúa nước, từ hơn chín trăm năm trước. Biết hết rồi, mà lần sau ngồi xem, có lẽ cả nhà vẫn sẽ giật mình khi chú Tễu bất ngờ hiện ra trên mặt nước.

Rồi buổi diễn khép lại. Tiếng nhạc lặng dần. Mặt nước còn khẽ gợn. Và phía sau tấm mành tre mỏng, những người không ai nhìn thấy mặt vẫn đứng đó trong nước, chờ suất diễn sau.

Câu chuyện gần đây