Phố Hàng Bè
Phố Hàng Bè mang tên những chiếc bè, vậy mà đứng giữa phố, chẳng thấy dòng sông nào, cũng chẳng thấy chiếc bè nào. Con phố nhỏ ấy chạy từ chỗ phố Hàng Mắm gặp phố Hàng Bạc tới ngã tư Hàng Dầu, Cầu Gỗ, nối khu Bờ Hồ với những con phố cổ phía trong. Phố dài chừng một trăm bảy mươi hai mét, rộng chừng sáu mét. Hai bên là hàng ăn, quán cà phê nối nhau, tiếng nói cười rộn ràng. Dòng sông Hồng đã lùi ra xa, khuất sau những dãy phố.
Ngày xưa, chỗ Hàng Mắm gặp Hàng Bạc ấy là cửa ô Mỹ Lộc, và sát bên là bờ sông Hồng. Nước sông chảy ngay dưới chân một con đê cũ. Từ miền ngược, những chiếc bè xuôi về, ghé sát vào chân đê ấy. Bè gỗ, bè nứa, bè luồng, cùng song, mây và lá, toàn là những thứ người kinh thành cần để dựng nhà.
Mình cùng quay về thuở bè còn cập bến. Ngày ấy, đất này thuộc thôn Nam Hoa, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương. Đến giữa thế kỷ mười chín, thôn đổi tên thành Nam Phố, còn tổng đổi thành Đông Thọ. Con phố hôm nay vốn là một khúc của đê sông Hồng cũ. Vì bè hay cập vào chân khúc đê này, người ta gọi nó là Hàng Bè, và cái chợ họp trên đê cũng thành chợ Hàng Bè.
Bè là gì nhỉ? Đó là những thân gỗ, thân nứa được buộc chặt vào nhau thành một mảng lớn, nổi trên mặt nước. Bè xuôi dòng về tới đây thì dừng lại. Các bè luồng, bè nứa được đưa lên bờ bán, người mua kẻ bán họp lại thành chợ. Lúc đầu, chợ họp ở đầu phố Hàng Tre, rồi mới dời dần vào chỗ phố Hàng Bè ngày nay. Thế là tên chợ thành tên phố.
Trong ba mươi sáu phố phường, phần lớn phố mang tên một món hàng bày bán, như bạc, như đường, như gai. Hàng Bè thì có chỗ khác. Tên phố gọi theo vị trí bên sông và theo chính chiếc bè, cái phương tiện đưa hàng về bến.
Bến sông ngày ấy không chỉ có bè. Thuyền mành của lái buôn Việt cũng ghé vào, chở sản vật từ Đàng Trong, tức vùng đất phía nam. Trên thuyền có vây cá, tôm he, cá khô, nước mắm, cau khô và đường Quảng. Những chiếc thuyền đinh lớn của lái buôn Trung Hoa thì chở đồ xa xỉ, như hoành phi, câu đối. Dần dần, trên phố mọc lên những hiệu buôn lớn của người Hoa.
Gần bến còn có một thôn tên là Ngũ Hầu. Thôn này vốn ở ngoài tòa thành đất bao quanh kinh thành Thăng Long, kề bờ sông Hồng. Để tránh lụt lội, dân thôn dời vào ở nhờ trên đất Nam Phố. Ngôi đình của họ, đình Ngũ Hầu, đến nay vẫn còn ở số nhà hai mươi chín phố Hàng Bè.
Đình thờ Cao Tứ. Người xưa kể rằng Cao Tứ là một anh hùng thời Thục An Dương Vương. Tương truyền, từ đời vua Đinh Tiên Hoàng, Cao Tứ đã được phong vương. Giữa phố xá đông đúc, ngôi đình ấy giữ lại câu chuyện của một ngôi làng từng phải chạy nước sông.
Rồi dòng sông bắt đầu đổi ý. Cát bồi tụ lại. Dòng chảy dịch dần sang phía đông, lòng sông rút ra xa. Đến một ngày, bè mảng không vào được sát chân đê nữa. Khúc đê cũ không còn đón bè, và nó thành một con phố.
Người Pháp đến, họ gọi phố là Rue des Radeaux, nghĩa là phố của những chiếc bè. Năm một nghìn chín trăm hai mươi, phố bị đổi sang một tên Pháp khác. Phải đến năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, phố mới được trả lại cái tên cũ, Hàng Bè.
Khi bè không còn về, phố tìm một món hàng mới. Những năm hai mươi, ba mươi của thế kỷ trước, các cửa hàng bán cau tươi, cau khô chiếm gần nửa số nhà trên phố. Đoạn đầu phố vì thế có một thời được gọi là phố Hàng Cau. Những nhà buôn cau lớn ngày ấy có hiệu Phúc Lợi ở số mười tám, hiệu Thịnh Phát ở số bốn. Ông bà mình vẫn nói miếng trầu là đầu câu chuyện, và ngày ấy, cả một đoạn phố sống nhờ quả cau.
Năm một nghìn chín trăm bốn mươi, ở số nhà hai mươi tư, một hiệu bánh gai mở cửa. Còn ngôi nhà số mười lăm từng là nhà riêng của Nguyễn Tường Tam, bút danh Nhất Linh, người khởi xướng nhóm văn chương Tự Lực văn đoàn. Trên một con phố chưa đầy hai trăm mét, có biết bao câu chuyện nằm sau những cánh cửa.
Còn hôm nay, không còn ai bán cau tươi, cau khô hay trầu vỏ trên phố nữa. Thay vào đó là những hàng ăn, quán cà phê mà mình gặp ngay từ đầu câu chuyện, phố ngắn mà món ăn thì nhiều.
Cái chợ ngày xưa cũng chưa biến mất. Chợ Hàng Bè bây giờ trải ra cả mấy con phố quanh đó, Hàng Bè, Gia Ngư, Cầu Gỗ. Mấy năm gần đây, người ta gọi vui nó là chợ nhà giàu. Những ngày giáp Tết, chợ bày đầy đồ cúng mang hương vị cổ truyền. Có gà luộc, xôi gấc, nem, giò chả, thịt đông, cá kho, dưa hành, đủ cho một mâm cỗ ngày cuối năm.
Hãy tưởng tượng các bạn nhỏ đứng ở đầu phố, chỗ Hàng Mắm gặp Hàng Bạc, nơi cửa ô Mỹ Lộc từng đứng. Dưới chân là mặt phố, mà bên dưới mặt phố là khúc đê cũ của sông Hồng. Ngày xưa, ở đây có người mua kẻ bán quanh những bè luồng, bè nứa vừa cập bến. Hôm nay, cũng ở đây, có người mua kẻ bán quanh mâm xôi gấc, đĩa giò chả ngày Tết.
Chợ vẫn họp trên khúc đê ngày trước, và tiếng mời chào vẫn vang lên.