Đền Ngọc Sơn
Vừa rời vỉa hè phố Đinh Tiên Hoàng, bước qua một cánh cổng gạch, tiếng xe máy bỗng lùi lại sau lưng, và trước mặt hiện ra một ngọn bút khổng lồ đang chĩa thẳng lên trời. Con đường dẫn vào đền Ngọc Sơn chỉ ngắn thôi. Nhưng mỗi bước chân trên đó lại chạm vào một lớp chuyện cũ của đất Thăng Long.
Ngọn bút ấy là Tháp Bút. Tháp đứng trên một ngọn núi đá nhỏ cao chừng bốn mét, tên là núi Độc Tôn. Thân tháp vuông, cao năm tầng, chân tháp rộng, càng lên cao càng thon lại. Trên chóp là một ngọn bút lông cao chín mươi phân, mũi bút hướng thẳng lên trời xanh. Nhìn kỹ mặt phía bắc của ba tầng dưới, sẽ thấy ba chữ Hán "Tả Thanh Thiên", nghĩa là viết lên trời xanh. Một cây bút to bằng cả ngọn tháp, viết chữ lên cả bầu trời. Người xưa đã nghĩ ra một hình ảnh lớn đến thế.
Đi thêm vài bước là tới một cổng vòm cuốn. Phía trên cổng, ngay chính giữa, đặt Đài Nghiên, tức là cái nghiên để mài mực viết chữ. Đài Nghiên ở đây được tạc từ một tảng đá xanh, hình nửa quả đào, đặt trên lưng ba con cóc. Trên thân nghiên khắc một bài minh sáu mươi tư chữ Hán do chính nhà nho Nguyễn Văn Siêu soạn. Bút đứng ngoài, nghiên nằm trong, như hai người bạn đang chờ nhau để bắt đầu một trang viết rất dài.
Rồi mặt hồ mở ra. Cầu Thê Húc sơn đỏ son, cong mình vắt từ bờ sang đảo Ngọc, in bóng xuống mặt nước Hồ Hoàn Kiếm. Cầu dài chừng bốn mươi lăm mét, gồm mười lăm nhịp, mỗi nhịp dài chừng ba mét. Đỡ lấy mặt cầu là ba mươi hai cột gỗ tròn, xếp thành mười sáu đôi. Những thanh ván bắc ngang được làm bằng gỗ lim. Hai chữ Thê Húc trên cầu được thếp vàng.
Cái tên Thê Húc nghe lạ tai. Có người giảng là cầu đậu ánh nắng ban mai, có người nói là giọt ánh sáng đậu lại. Buổi sớm, khi ánh nắng đầu ngày trải trên mặt hồ, cây cầu đỏ như đang giữ lại một vệt sáng ấy cho riêng mình.
Cây cầu được bắc năm một nghìn tám trăm sáu mươi lăm. Thuở mới làm, cầu không có tay vịn. Phải qua nhiều lần trùng tu, cầu mới mang dáng cong như cầu vồng, có lan can và màu đỏ như hôm nay.
Cuối cầu, một cánh cổng gạch hai tầng đứng đón, tám mái đao cong vút lên. Đó là cổng Đắc Nguyệt, nằm dưới bóng một cây đa già. Hai bên cổng đắp nổi hình long mã và rùa thần, trên cổng có những câu đối nói về hồ nước và ánh trăng. Bước qua cổng này là đã đặt chân lên đảo Ngọc.
Hòn đảo nhỏ phía đông bắc mặt hồ ấy có nhiều tên. Người xưa kể đảo từng được gọi là Tượng Nhĩ, nghĩa là tai voi. Khi vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long, đảo mang tên Ngọc Tượng, đến đời Trần thì đổi thành Ngọc Sơn.
Từ thời Lê, trên đảo đã có công trình thờ tự. Chúa Trịnh Giang từng dựng ở đây cung Thụy Khánh và cho đắp hai quả núi đất. Về sau, một nhà từ thiện tên là Tín Trai lập ngôi chùa Ngọc Sơn thờ Phật trên nền cung cũ, và đầu thế kỷ mười chín, chùa vẫn đứng trên đảo. Năm một nghìn tám trăm bốn mươi ba, một hội từ thiện bỏ gác chuông, xây lại các gian điện chính, đưa tượng Văn Xương Đế Quân vào thờ và đổi tên thành đền Ngọc Sơn.
Hai mươi hai năm sau, nhà nho Nguyễn Văn Siêu, người làng Kim Lũ mà dân quanh vùng quen gọi là Kẻ Lủ, đứng ra đại tu ngôi đền. Ông dựng đình Trấn Ba, bắc Cầu Thê Húc, xây Tháp Bút và Đài Nghiên. Con đường cả nhà vừa đi qua, từ ngọn bút trên núi đá đến cây cầu đỏ, phần lớn mang dấu tay của ông.
Nguyễn Văn Siêu cùng Vũ Tông Phan đứng đầu Hội Hướng Thiện, một hội tập hợp nhiều nhà nho yêu nước thời ấy, lấy đền làm nơi sinh hoạt. Hội cho in nhiều loại sách: sách thuốc, kinh sách, sách bàn về tín ngưỡng. Trên hòn đảo giữa hồ, từng có những nhà nho bàn chuyện chữ nghĩa và lo từng trang sách.
Đình Trấn Ba đứng trên đảo, quay mặt về hướng nam, mái đình dựng trên tám cột. Đền chính gồm hai ngôi nối liền nhau. Ngôi phía bắc thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, vị danh tướng đời Trần, cùng Văn Xương Đế Quân, vị thần trông nom việc học hành thi cử. Đền còn có ban thờ Phật. Một bên là người cầm gươm giữ nước, một bên là vị thần của ngọn bút. Văn và võ ở chung dưới một mái ngói.
Mỗi mùa thi, nhiều bạn học sinh cùng cha mẹ tìm về đây, xin cho việc thi cử được thuận lợi. Cây cầu đỏ lại đông bước chân.
Trong đền còn giữ một điều rất đặc biệt. Hai cụ rùa từng sống trong lòng hồ được giữ lại, đặt cạnh nhau. Một cụ mất năm một nghìn chín trăm sáu mươi bảy. Cụ kia mất vào tháng một năm hai nghìn không trăm mười sáu, thân dài hơn hai mét, rộng hơn một mét. Các bạn nhỏ đứng trước hai cụ rùa, hẳn sẽ nhớ ngay đến truyền thuyết của hồ.
Truyền thuyết kể rằng, một hôm vua Lê Thái Tổ chơi thuyền trên hồ, bỗng thấy một con rùa lớn nổi lên mặt nước, đòi lại thanh gươm báu. Vua rút gươm trả. Rùa thần ngậm lấy gươm, lặn xuống nước. Từ đó hồ mang tên Hoàn Kiếm, nghĩa là trả gươm.
Năm hai nghìn không trăm mười ba, cụm di tích Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt.
Từ giữa những nhịp gỗ đỏ của cầu Thê Húc, Tháp Bút hiện lên trên nền trời phía bờ, mũi bút chĩa thẳng lên cao. Mấy câu ca dao người Hà Nội truyền nhau bao đời bỗng như vang lên giữa gió hồ: "Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ, xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn. Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn, hỏi ai gây dựng nên non nước này." Dưới chân cầu, mặt hồ khẽ gợn. Trên cao, ngọn bút vẫn đang lặng lẽ viết lên trời xanh.