Di tích Nhà tù Sơn La
Trước khi vào đây, cả nhà thử hình dung một điều thôi.
Năm một nghìn chín trăm bốn mươi mốt, trong một căn buồng nhỏ xíu của nhà tù này, một nhóm người bị cùm chân, bị giam giữ trong điều kiện thiếu thốn mọi thứ, vẫn ngồi viết báo. Họ xin giấy danh nghĩa để viết thư về nhà. Rồi ban đêm, dưới ánh đèn dầu giấu lậu, họ viết nội dung khác hẳn: bình luận chính trị, văn xuôi, thơ. Tờ báo có tên là Suối Reo. Hai trang mỗi số. Khổ bằng bàn tay. Đọc to cho các buồng khác nghe sau giờ khóa cửa.
Đó là điều xảy ra ở nhà tù Sơn La.
Cả nhà đang đứng trên đồi Khau Cả, một trong những di tích lịch sử quan trọng nhất của Việt Nam thế kỷ hai mươi. Nhà tù này được thực dân Pháp xây dựng từ năm một nghìn chín trăm lẻ tám. Ban đầu chỉ là nhà tù tỉnh, cổng chính còn ghi dòng chữ Prison Provinciale. Tù thường phạm, án hình sự, không có gì đặc biệt. Nhưng sau năm một nghìn chín trăm ba mươi, mọi thứ thay đổi.
Phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo ngày càng lớn mạnh, Pháp quyết định biến nơi này thành nhà tù quốc gia chuyên giam tù chính trị. Họ mở rộng thêm khoảng tám trăm mét vuông, xây thêm phòng giam, thêm khu ngầm. Và trong mười lăm năm tiếp theo, từ một nghìn chín trăm ba mươi đến một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, nơi này đón mười bốn đoàn tù chính trị, tổng cộng hơn một nghìn lượt người bị giam giữ.
Trong số đó có những cái tên mà cả nhà sẽ nhận ra: Lê Duẩn, Trường Chinh, Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Nguyễn Lương Bằng. Những người này sau đó trở thành Tổng Bí thư, Đại tướng, Bộ trưởng Ngoại giao, Phó Chủ tịch nước. Pháp đã giam họ tại đây với ý định khuất phục tinh thần cách mạng. Kết quả thì cả nhà biết rồi đấy.
Bây giờ mình hãy đi qua khu xà lim ngầm.
Khi bước xuống đây, cả nhà đang đi xuống từ ba đến ba rưỡi mét dưới mặt đất. Khu ngầm này có năm xà lim cá nhân và hai xà lim tập thể. Mỗi xà lim cá nhân chỉ có một lỗ thông hơi nhỏ bằng nắm tay, có song sắt. Cửa sắt đóng lại là không phân biệt ngày đêm. Người tù phải nằm co trong không gian chật hẹp, không có cách nào biết mặt trời đang ở đâu.
Và còn một chi tiết mà nhiều người không biết: ngay bên trên chúng ta đứng là khu bếp nấu ăn của nhà tù. Không phải ngẫu nhiên. Pháp xây bếp bên trên xà lim để khói bếp rò xuống, đó là thêm một hình thức tra tấn. Và cái bếp ấy lại hoạt động như một lớp ngụy trang hoàn hảo: khi các phóng viên quốc tế đến thị sát vào thời kỳ Mặt trận Bình dân Pháp năm một nghìn chín trăm ba mươi sáu đến một nghìn chín trăm ba mươi chín, họ chỉ thấy cái bếp. Hệ thống xà lim ngầm bên dưới, hoàn toàn khuất mắt.
Điều kiện giam cầm ở đây hà khắc theo nhiều cách. Khẩu phần ăn là nắm cơm nhỏ trộn cám và trấu, ăn kèm muối hoặc canh rau muống nhạt. Mỗi năm một bộ quần áo, một chiếc chăn mỏng. Tỷ lệ tử vong trước năm một nghìn chín trăm ba mươi sáu vượt quá hai mươi lăm phần trăm, nguyên nhân chủ yếu là kiết lỵ, thương hàn, sốt rét và lao động khổ sai. Đồng chí Trường Chinh, khi thăm lại nơi này năm một nghìn chín trăm tám mươi ba, nhớ lại mỗi tuần chỉ được tắm một lần với lượng nước rất ít, trong khi gánh nước lại là công việc lao động khổ sai.
Vậy mà trong điều kiện đó, người ta vẫn tổ chức được chi bộ Đảng bí mật, vẫn ra tờ báo hàng tháng, vẫn học tập và dạy nhau. Tháng mười hai năm một nghìn chín trăm ba mươi chín, chi bộ Đảng bí mật trong tù được thành lập. Tháng năm năm một nghìn chín trăm bốn mươi, một người tù tên Tô Hiệu được bầu làm Bí thư Chi bộ.
Cả nhà bây giờ hãy ra khu sân, đến chỗ cây đào nhỏ.
Đồng chí Tô Hiệu sinh năm một nghìn chín trăm mười hai ở Hưng Yên. Bị bắt khi hai mươi bảy tuổi, kết án năm năm. Tại nhà tù Sơn La, trong điều kiện cùm chân, bệnh lao, đói rét, ông trồng một cây đào từ hạt giống, tưới bằng những giọt nước hiếm hoi. Ông lãnh đạo chi bộ, soạn tài liệu huấn luyện cán bộ, ngồi trên sàn xi măng ôm đầu gối để giảm đau khi viết vì bệnh lao đã nặng.
Ngày bảy tháng ba năm một nghìn chín trăm bốn mươi bốn, ông hy sinh tại đây. Ba mươi hai tuổi.
Năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, sau khi cách mạng thành công, cây đào được đặt tên ông để tưởng nhớ. Năm một nghìn chín trăm năm mươi hai, Pháp ném bom phá gần hết khu nhà tù. Năm một nghìn chín trăm sáu mươi lăm, không quân Mỹ tiếp tục bắn phá. Cả hai lần, cây đào vẫn sống. Mỗi mùa xuân, cây vẫn ra hoa.
Đây không phải câu chuyện về một điều kỳ diệu siêu nhiên. Đây là câu chuyện về một cây đào bình thường, đã sống qua hai lần bom, ở một nơi mà người trồng nó không bao giờ nhìn thấy nó nở hoa. Và giờ cả nhà đang đứng trước cây đào ấy, vào một ngày xuân.
Còn một chuyện nữa mình muốn kể, trước khi ra nghĩa trang.
Năm một nghìn chín trăm bốn mươi ba, bốn người tù vượt ngục thành công: Trần Đăng Ninh, Nguyễn Văn Trân, Lưu Đức Hiểu và một người tên Sao Đỏ. Trong mười lăm năm nhà tù hoạt động, đây là những người vượt ngục và thoát được. Họ thoát qua điểm liên lạc bí mật là cây đa bản Hẹo, một cây đa cổ thụ cao khoảng hai mươi lăm mét, nơi đầu mối kết nối chi bộ trong tù với Trung ương Đảng bên ngoài.
Cây đa ấy hiện vẫn còn, cả nhà sẽ đi qua.
Bây giờ mình ra nghĩa trang. Sáu mươi mốt liệt sĩ yên nghỉ ở đây, những người đã không qua khỏi nhà tù Sơn La. Mộ đồng chí Tô Hiệu ở vị trí trung tâm. Đứng ở đây, nhớ một con số: trong tổng số hơn một nghìn lượt người từng bị giam tại nhà tù này, tám trăm bảy mươi người sau đó giữ các chức vụ cao trong Đảng, Nhà nước và chính quyền. Thực dân Pháp đã xây nhà tù này để tiêu diệt phong trào cách mạng. Họ đã không thành công.
Tám trăm bảy mươi người bước ra từ đây để đứng vào những trang sử lớn nhất của đất nước. Điều đó bắt đầu ở chính mảnh đất này, dưới bầu trời Sơn La.