Chuyen.AIPlaylist
Huế

Núi Ngự Bình

0:000:00

Từ bờ nam sông Hương nhìn lên, núi Ngự Bình có một dáng hình rất lạ: đỉnh núi không nhọn mà bằng phẳng, như có ai cầm một cây thước thật dài gạt ngang qua. Cả ngọn núi đứng thành một hình thang, lặng lẽ giữa vùng đất phía nam thành phố Huế.

Núi chỉ cao một trăm lẻ ba mét. Đó là một hòn núi đất hiền lành, chẳng có gì dữ dằn hay hiểm trở. Vậy mà từ hơn ba trăm năm trước, ngọn núi nhỏ này đã được các chúa Nguyễn, rồi các vua Nguyễn, chọn cho một vai trò quan trọng bậc nhất trước mặt cả một kinh đô. Con đường lên đỉnh không dài. Nhưng mỗi quãng dốc lại mở ra một lớp chuyện.

Chuyện bắt đầu từ những cái tên. Ngày xưa, ngọn núi chưa mang cái tên sang trọng như bây giờ. Người ta gọi nó là Hòn Mô, hoặc Núi Bằng, chữ Hán viết là Bằng Sơn. Những cái tên nghe thật mộc mạc.

Chân bước lên những quãng dốc đầu tiên, câu chuyện lùi về năm một nghìn sáu trăm tám mươi bảy. Năm ấy, chúa Nguyễn Phúc Thái dời phủ chúa về Phú Xuân. Và ngọn núi đỉnh phẳng ở phía nam trở thành tấm bình phong đứng chắn trước mặt phủ chúa.

Bình phong là gì nhỉ? Trong những ngôi nhà xưa, bình phong là bức chắn dựng phía trước, để không gian bên trong được kín đáo và yên ổn. Còn phủ chúa ở Phú Xuân thì có hẳn một ngọn núi làm bình phong.

Hơn năm mươi năm sau, năm một nghìn bảy trăm ba mươi chín, thành Phú Xuân của chúa Nguyễn Phúc Khoát xây xong. Ngọn núi vẫn đứng đó, vẫn làm tấm bình phong. Rồi năm một nghìn tám trăm lẻ năm, vua Gia Long xây Kinh thành Huế. Từ đây, ngọn núi chính thức trở thành tiền án của Kinh thành theo phép phong thủy.

Chữ án gợi đến chiếc bàn đặt ngay trước mặt người ngồi. Kinh thành nhìn ra phía trước, và chiếc bàn ấy chính là ngọn núi đỉnh phẳng bên kia sông Hương. Một chiếc bàn bằng đất, cao hơn trăm mét, do trời đất bày sẵn.

Cũng đến đời vua Gia Long, ngọn núi được mang cái tên mới: Ngự Bình. Chữ Ngự gợi đến nhà vua. Chữ Bình là tấm bình phong. Ghép lại, đó là tấm bình phong của nhà vua.

Đời ấy còn có một chuyện nghe rất dễ thương. Từ thời vua Gia Long đã có lệ rằng các quan, mỗi người đều phải trồng ở Ngự Bình một cây thông. Mỗi vị quan một cây. Từng cây, từng cây, ngọn núi đất dần có thông phủ lên đỉnh.

Đường lên càng cao, câu chuyện càng có thêm người. Năm một nghìn tám trăm hai mươi hai, vua Minh Mạng ngự giá lên núi Ngự Bình. Nhân chuyến đi ấy, nhà vua đặt tên cho hai ngọn núi nhỏ ở hai bên. Ngọn bên trái là Tả Phụ Sơn. Ngọn bên phải là Hữu Bật Sơn.

Tả là bên trái, hữu là bên phải. Phụ và bật đều mang nghĩa giúp đỡ, nâng đỡ. Thế là ngọn núi đỉnh phẳng có thêm hai người bạn đứng hầu hai bên, như hai vị quan nhỏ chầu bên ngai vàng.

Rồi con dốc thoải dần, và bàn chân chạm vào mặt đất phẳng trên cao. Đây chính là cái đỉnh bằng mà lúc nãy cả nhà nhìn thấy từ xa. Ngày xưa, những cây thông của các quan đã mọc trên mặt đỉnh bằng phẳng này.

Từ đỉnh núi, hướng về phía bắc là dòng sông Hương, và bên kia sông, cách chừng bốn cây số, là Kinh thành Huế. Giữa ngọn núi và Kinh thành có một đường thẳng không ai kẻ lên mặt đất, nhưng cả kinh đô được dựng theo nó. Đó là trục thần đạo.

Đường thẳng ấy bắt đầu từ núi Ngự Bình, vượt qua sông Hương, chạm tới Kỳ Đài, đi qua Ngọ Môn, đến Điện Thái Hòa, rồi vào tận Tử Cấm Thành. Nó giống như một sợi chỉ vô hình căng từ đỉnh núi này, xuyên qua những cánh cổng và mái điện, vào tận nơi sâu nhất của hoàng cung. Ngọn núi đất nhỏ bé đang giữ một đầu của sợi chỉ ấy.

Vì thế mà Ngự Bình được gọi là đệ nhất án của Kinh thành Huế, ngọn án đứng đầu trong những ngọn núi chầu trước kinh đô. Có người còn gọi nó bằng hai chữ ngắn gọn mà oai: Án vua. Khoảng cách từ núi tới dòng sông được xem là vừa vặn, không gần quá, không xa quá. Còn Tả Phụ, Hữu Bật thì đứng hai bên nâng đỡ.

Các vua Nguyễn quý ngọn núi đến mức đưa cả hình bóng nó vào những báu vật của triều đình. Năm một nghìn tám trăm ba mươi sáu, khi đúc Cửu đỉnh, chín chiếc đỉnh lớn của nhà Nguyễn, hình núi Ngự Bình được khắc lên Nhân đỉnh.

Ngọn núi cũng đi vào thơ. Vua Minh Mạng và vua Thiệu Trị đều từng lên Ngự Bình và làm thơ về núi. Vua Thiệu Trị chọn núi Ngự Bình là một trong hai mươi thắng cảnh của Kinh đô. Bài thơ vịnh núi của ông được khắc vào bia, đặt dưới chân núi, và tấm bia ấy đến nay vẫn còn nguyên.

Sang thời gần hơn, núi Ngự còn bước vào lời ca, trong bài hát Huế xưa của nhạc sĩ Anh Bằng. Ở đó, sông Hương và núi Ngự được nhắc liền nhau, như chúng vẫn đứng liền nhau ngoài đời. Dòng nước chảy ở phía trước. Ngọn núi đứng ở phía sau. Cái này giữ cho cái kia trọn vẹn.

Đến lúc xuống núi, con đường đi lên giờ trở thành con đường đi về. Những quãng dốc lúc nãy còn kể chuyện chúa Nguyễn, chuyện vua Gia Long, chuyện những cây thông của các quan, giờ lần lượt khuất sau lưng. Cái đỉnh phẳng trên cao nhỏ dần lại.

Trở lại bờ sông Hương, ngoảnh lại nhìn, ngọn núi vẫn y như lúc ban đầu. Một hình thang đỉnh phẳng, như ai lấy thước gạt ngang. Hai ngọn núi nhỏ đứng hai bên. Và từ cái đỉnh bằng ấy, sợi chỉ vô hình vẫn căng qua dòng Hương, qua Ngọ Môn, vào giữa lòng hoàng cung, như đã căng suốt hơn hai trăm năm nay.

Câu chuyện gần đây